Ngày đọc sách của bạn: Chậm một bước của Henning Mankell

Posted on 11/08/2007 bởi

2



Ngày đọc sách cuối tuần của bạn lần này có một chút thay đổi nhỏ. Thay vì trích lại ở đây một cuốn sách đã xuất bản, Nhã Nam muốn giới thiệu với các bạn trích đoạn của một cuốn sách sắp được ra mắt – Chậm một bước của Henning Mankell.

Cuốn sách này là tác phẩm thứ hai của nhà văn trinh thám nổi tiếng nhất tại Bắc Âu được xuất bản tại Việt Nam. Có vẻ như đối với nhiều bạn đọc Việt Nam, cái tên Mankell vẫn còn ít nhiều xa lạ, nhưng tại Châu Âu, khi nói tới văn học trinh thám đương đại, không ai có thể bỏ qua tác giả này. Bạn hãy thử tìm hiểu tại sao Mankell lại trở thành một nhà văn quan trọng tới mức đó nhé.

TRÍCH ĐOẠN TỪ TÁC PHẨM “CHẬM MỘT BƯỚC”:

Wallander quay vào bên trong và ngắm nhìn thật lâu một cái mô hình tàu thủy rất đẹp. Một cái tàu ba cột cũ. Mùi xào nấu tỏa ra từ trong bếp. Ông đói ngấu. Ông đã không ăn gì kể từ bữa sáng trên đường đi. Ông nghĩ đến một loạt câu hỏi muốn đặt cho Isa. Trước hết ông cần phải khám phá ra điều gì?

Ông không ngừng quay trở lại cùng một điểm: ông cần phải rút tỉa được điều mà cô biết mà không ý thức được.

Cô đã kê xong bàn ở hàng hiên lớn lắp kính chạy suốt một bên của ngôi nhà. Cô hỏi ông muốn uống gì. Nước. Cô uống rượu vang. Wallander lo lắng. Nếu cô uống quá nhiều, cuộc nói chuyện được trông chờ sẽ không thể tiến hành được. Nhưng trong cả bữa ăn cô chỉ uống một ly. Rồi cô pha cà phê. Khi Wallander muốn dọn bàn, cô ngăn ông lại. Có một cái đivăng và vài ghế phôtơi trong một góc hàng hiên. Cô mời ông đến đó ngồi. Qua cửa kính, ông nhìn thấy cầu tàu. Một con thuyền buồm chầm chậm lướt qua, những cái buồm cong mình theo gió.

– Ở đây đẹp thật đấy. Tôi chưa đến vùng này bao giờ.

– Họ đã mua hòn đảo cách đây khoảng ba mươi năm. Họ kể là tôi đã được hoài thai ở đây. Tôi sinh vào tháng Hai, nên chuyện đó là rất có thể. Trước hòn đảo thuộc về một cặp vợ chồng già đã sống ở đây cả đời. Tôi không biết bằng cách nào mà bố tôi nghe nói đến nó. Ông ta đã đến đây cùng một vali đầy tiền một trăm curon. Nhìn thì ấn tượng lắm, nhưng cũng không nhiều lắm đâu. Tất nhiên là cặp vợ chồng kia chưa bao giờ nhìn thấy từng ấy tiền. Phải mất vài tháng mới thuyết phục được họ. Rồi họ ký hợp đồng. Giá phải được giữ kín. Sự thật là bố tôi đã mua được hòn đảo này với cái giá như cho không.

– Cô muốn nói là ông ấy đã lừa họ?

– Tôi muốn nói là lúc nào bố tôi cũng là một kẻ lừa đảo.

– Nếu mọi chuyện được tiến hành theo đúng luật thì đó không nhất thiết là một trò lừa đảo. Có thể bố cô là một nhà kinh doanh rất thông minh.

– Buôn bán thì ông ta làm ở khắp nơi trên thế giới. Buôn kim cương và ngà voi ở châu Phi, đấy mới chỉ là vài thứ. Không ai biết chính xác ông ta làm gì đâu. Thỉnh thoảng có những người Nga đến gặp ông ấy ở Skårby. Không ai có thể làm tôi tin được việc buôn bán của họ là hợp pháp.

– Theo chỗ tôi biết thì ông ấy chưa bao giờ gặp rắc rối với chúng tôi cả.

– Ông ta ranh lắm. Và bướng bỉnh. Người ta có thể trách cứ ông ta rất nhiều chuyện, nhưng không phải là lười biếng. Những kẻ không đoái hoài đến cái gì không có thời gian để nghỉ ngơi.

Wallander đặt cái tách xuống.

– Nói về bố cô thế là đủ rồi. Bây giờ nói về cô nhé. Chính vì việc đó mà tôi đã đến đây. Tối nay chúng ta sẽ quay về phía Nam.

– Điều gì làm ông nghĩ là tôi sẽ đi cùng ông?

Wallander nhìn cô chăm chú một lúc trước khi trả lời.

– Ba trong số những người bạn thân nhất của cô đã bị giết. Nếu không bị ốm, lẽ ra cô đã phải tham gia bữa tiệc cùng với họ. Cô cũng hiểu rõ như tôi rằng điều đó có nghĩa là gì.

Cô thu mình lại trong chiếc phôtơi. Ông thấy rõ là cô đang sợ.

– Chúng tôi không biết tại sao chuyện đó lại xảy ra. Vì vậy chúng tôi buộc phải thận trọng.

Cuối cùng cô tỏ ra là đã hiểu.

– Tôi đang gặp nguy hiểm à?

– Rất có thể.

– Nhưng tại sao lại có kẻ muốn giết tôi?

– Tại sao lại có kẻ muốn giết các bạn cô? Martin, Lena, Astrid?

Cô lắc đầu.

– Tôi không biết.

Wallander kéo gh
phôtơi của mình lại gần ghế của cô.

– Tuy vậy, cô có thể giúp chúng tôi. Cần phải tìm ra kẻ đã làm chuyện đó. Để làm được điều ấy, chúng tôi phải hiểu được cái gì đã thúc đẩy hắn hành động.

– Nhưng chẳng có gì để hiểu cả!

– Cô phải suy nghĩ. Ai có thể ghét các cô, cả nhóm ấy? Dính dáng đến chuyện gì? Tại sao? Chắc chắn là phải có một câu trả lời.

Đột nhiên, ông quyết định chuyển hướng. Giờ đây cô đã lắng nghe ông, ông muốn tận dụng cơ hội.

– Cô phải trả lời tôi. Cô phải nói cho tôi sự thật. Sau đó tôi sẽ xem liệu cô có nói dối không.

– Tại sao tôi lại phải nói dối?

– Khi tôi tìm thấy cô, cô gần như đã chết. Tại sao cô muốn tự tử? Có phải là cô đã biết chuyện xảy ra cho các bạn cô?

Cô tỏ ra ngạc nhiên.

– Tất nhiên là không! Tôi cũng tự đặt cho mình những câu hỏi giống hệt mọi người.

Wallander cảm thấy cô nói thật.

– Tại sao cô lại định tự tử?

– Tôi không muốn sống nữa. Tôi không thấy có lý do nào khác để mà muốn kết thúc tất cả. Bố mẹ tôi đã đập tan nát cuộc đời tôi giống như đã đập tan nát cuộc đời Jörgen. Tôi không còn muốn sống nữa.

Wallander đợi đoạn sau. Nhưng cô chỉ im lặng. Khi đó ông quyết định quay trở lại với chuyện đã xảy ra ở khu bảo tồn. Trong gần ba giờ, ông buộc được cô quay lại với quá khứ. Ông không bỏ sót điều gì, ngay cả những chi tiết nhỏ nhất. Ông quay lại một số điểm, có khi nhiều lần. Ông đi ngược trở lại rất xa trong câu chuyện của họ. Cô gặp Lena Norman lần đầu tiên khi nào? Năm nào, tháng nào, ngày nào? Họ đã gặp nhau bằng cách nào? Tại sao lại trở thành bạn? Bằng cách nào cô trở thành bạn của Martin Boge? Khi cô khẳng định là không nhớ hoặc không chắc về một chi tiết, ông liền bắt đầu lại từ đầu. Sự do dự và lãng quên vẫn luôn có thể phải chịu khuất phục, nếu biết cách kiên nhẫn. Ở mỗi bước của cuộc thẩm vấn, ông thúc giục cô nhớ lại liệu có một ai khác đã có mặt không, thậm chí ngay cả khi cô không nhìn thấy. Một cái bóng trong một góc nào đó, ông nói. Kẻ nào đó vô hình, ở đó mà không ai nhận ra. Ông hỏi cô về tất cả các biến cố, các sự kiện bất ngờ nhất đã có thể xảy ra. Sau một lúc, cô hiểu ra cách làm của ông và trả lời dễ dàng hơn.

Khoảng mười bảy giờ, họ quyết định ở lại trên đảo cho đến sáng mai. Wallander gọi cho Westin để báo tin. Ông hứa sẽ đến đón họ, không hỏi câu nào về Isa. Nhưng Wallander có cảm giác ông biết cô đang ở Bärnsö. Sau đó, họ đi dạo trên đảo, vẫn tiếp tục nói chuyện. Thỉnh thoảng, Isa ngừng lời để chỉ cho ông những nơi mà cô từng chơi khi còn nhỏ. Họ đi đến mũi đảo, trên những tảng đá. Cô làm ông sửng sốt khi đột nhiên chỉ một cái hõm đá: cô đã mất trinh ở đây. Cô không nói rõ là với ai.

Họ quay ngược trở lại. Trời bắt đầu tối; Isa thắp những ngọn đèn dầu trong khắp ngôi nhà. Ông gọi điện thoại cho Martinsson, anh không có gì mới để báo. Vẫn chưa nhận diện được Louise. Wallander thông báo là ông sẽ ngủ đêm ở Bärnsö và ngày hôm sau sẽ trở về Ystad cùng Isa Edengren.

Họ dành cả buổi tối để nói chuyện.

Thỉnh thoảng, họ ngừng lời để uống trà và ăn sandwich. Hoặc chỉ để nghỉ ngơi. Nhiều lần Wallander bước ra ngoài bóng đêm và đi tiểu ở một gốc cây. Chỉ nghe tiếng xào xạc của lá, trong sự tĩnh lặng. Rồi họ tiếp tục cuộc nói chuyện. Một cách chậm rãi, dần dần Wallander bắt đầu hiểu được các trò chơi của họ. Họ đóng các vai. Họ cải trang, tổ chức những bữa tiệc, chuyển từ một thời kỳ này sang một thời kỳ khác. Khi đề cập công việc chuyển bị cho bữa tiệc cuối cùng, ngày Saint-Jean, Wallander đã vô cùng cẩn thận, vô cùng chậm rãi. Ai có thể biết được kế hoạch của họ? Không ai hết, cô nói. Ông không thể chấp nhận câu trả lời đó. Ai đó phải biết.

– Chúng ta sẽ bắt đầu lại từ đầu. Thêm một lần nữa. Khi nào thì bọn cô quyết định tổ chức một buổi picnic theo thời kỳ của Bellman?

Họ chia tay nhau vào lúc một rưỡi sáng. Wallander mệt mỏi đến mức thấy buồn nôn. Cô vẫn chưa cung cấp được cho ông hướng đi mà ông hy vọng. Nhưng ông còn có một chặng đường dài trên xe ôtô về Ystad để tiếp tục cuộc nói chuyện. Ông không có ý định đầu hàng.

Cô bảo ông lên ngủ ở một phòng tầng trên. Cô ngủ ở tầng trệt. Cô đưa cho ông một cái đèn dầu và chúc ông ngủ ngon. Ông dọn giường và mở hé cửa sổ. Bên ngoài, trời tối đen.

Ông nằm dài ra giường và thổi tắt đèn. Ông nghe tiếng Isa đang lục sục trong bếp. Rồi tiếng một cánh cửa đóng và khóa lại. Im lặng trùm xuống.

Ông ngủ thiếp đi ngay lập tức.

Không ai nhận ra con tàu tối om cập bến ở bãi Vikfjärden vào một giờ khuya khoắt. Và không ai nghe thấy tiếng hắn khi hắn im lặng trườn vào vũng nước nhỏ ở bờ Tây hòn đảo.

*****

Linda hét lên.

Cô ở ngay cạnh ông, tiếng hét chạy xuyên qua giấc mơ của ông. Khi mở mắt trong bóng tối, ông không hiểu ngay là mình đang ở đâu. Nhưng mùi đèn dầu vẫn lơ lửng trong phòng. Như vậy không phải là Linda. Ông cảm thấy tim mình đập loạn nhịp. Tiếng rì rào nhẹ nhàng của lá cây ở phía bên kia cửa sổ mở hé. Ông dỏng tai lên. Có phải ông đã mơ? Ông chầm chậm ngồi dậy trên giường, lần tìm bao diêm đặt gần cái đèn. Vẫn không có tiếng động nào. Ông châm đèn và mặc quần áo thật nhanh. Ông đang đi giày thì lại nghe thấy nó. Thoạt tiên, ông nghĩ tiếng động đến từ bên ngoài. Cái gì đó va vào tường nhà, có thể là một sợi dây đập vào ống máng. Rồi ông hiểu là nó vọng đến từ tầng trệt. Ông đứng dậy, giày vẫn cầm trên tay, và đi ra đến cửa, thận trọng mở nó ra. Tiếng động đến từ bếp. Ông hiểu ra: cái cửa lật. Nỗi sợ trở lại, nhân lên gấp đôi. Ông đã không mơ. Ông đã không tưởng tượng ra những chuyện đó.

Thay vì đi chiếc giày thứ hai, ông cởi cái kia ra, cầm lấy ngọn đèn và đi xuống cầu thang. Nửa chừng, ông dừng lại lắng nghe. Ánh đèn nhảy múa trên tường. Tay ông đang run. Ông không có gì để tự vệ khi cần. Ông cố suy nghĩ. Thật khó tin là có điều gì có thể xảy ra ở đây, trên đảo. Không có ai ngoài Isa và ông. Hẳn là ông đã mơ. Hoặc là một con chim đêm. Hoặc nữa, giả thuyết thứ ba, không phải là ông mơ, mà là Isa Edengren.

Ông xuống đến tầng trệt. Phòng ngủ của cô nằm cạnh bếp. Ông lại đứng bất động. Rồi ông gõ cửa. Không có tiếng trả lời. Ông cố nghe tiếng thở của ông. Sự im lặng quá sâu, ông nghĩ. Rồi ông cố mở cửa. Cửa khóa. Không do dự nữa, ông lấy hết sức đập cửa, quay nắm đấm. Cửa quá chắc. Ông đi vào bếp, đóng cánh cửa lật lại và lục các ngăn kéo tìm một thứ dụng cụ. Ông tìm được một cái tuôcnơvit to. Rồi ông phá cửa phòng Isa. Giường trống không. Cửa sổ mở, nhưng không dựng thanh chống. Ông cố hiểu điều gì có thể xảy ra. Rồi ông nhớ đã nhìn thấy một cái đèn pin lớn trong bếp. Ông đi tìm nó, và một cái búa tìm thấy trong cùng ngăn kéo với cái tuôcnơvit; ông cũng mang theo cả cái tuôcnơvit. Ông mở cửa chính ra và dỏng tai lên. Khi đã ở trong sân, ông nhận ra mình đang đi chân trần. Một con chim bay vụt qua trong bóng tối. Gió làm lung lay những ngọn cây. Ông gọi Isa nhưng không có tiếng trả lời. Ông lại gần cửa sổ phòng cô và chiếu đèn xuống đất. Có vết chân, nhưng quá mờ để có thể lần theo. Ông quay lại, rọi đèn vào bóng tối của khu vườn. Gọi Isa một lần nữa. Tim ông đập rộn. Ông sợ. Ông quay lại cửa phòng bếp và chiếu vào ổ khóa. Đúng như ông lo ngại, cửa đã bị khóa. Nỗi sợ của ông tăng lên. Ông quay lại và giơ búa lên, nhưng không có ai hết. Ông trèo lên gác. Điện thoại của ông nằm trên bàn cạnh giường. Ông cố gắng hiểu điều đã xảy ra. Kẻ nào đó đã phá cửa bếp. Isa đã thức dậy vì có kẻ nào đó định vào phòng cô. Cô đã chạy trốn qua cửa sổ. Ông không tìm được cách giải thích khả dĩ nào khác. Ông bấm số nhà Martinsson. Anh nhấc máy ở lần đổ chuông thứ ba. Wallander biết là anh để một cái điện thoại bên cạnh giường.

– Kurt đây. Rất tiếc là đã đánh thức cậu.

– Có chuyện gì thế?

– Dậy đi. Đi rửa mặt. Tôi sẽ gọi lại trong ba phút nữa.

Martinsson phản đối. Wallander bỏ máy và nhìn đồng hồ đeo tay. Ba phút sau, ông gọi lại cho Martinsson, lo lắng với ý nghĩ điện thoại di động sắp hết pin. Dĩ nhiên là ông đã quên mang theo một cục pin dự trữ.

– Nghe rõ tôi nói đây, ông nói. Tôi không thể nói dài được. Sắp hết pin rồi. Cậu có giấy bút không?

Lúc này Martinsson đã tỉnh ngủ hoàn toàn.

– Tôi nghe đây.

– Đêm nay đã xảy ra chuyện gì đó. Tôi không biết là chuyện gì, nhưng Isa Edengren đã hét lên. Điều đó làm tôi tỉnh dậy. Cô ấy đã biến mất. Cửa chính bị phá. Như vậy là có kẻ nào đó trên đảo. Tôi không biết là ai, nhưng hắn đã đến tìm cô ấy. Có một khả năng nhỏ là hắn còn chưa biết tôi cũng ở đây. Tôi thấy sợ cho cô ấy. Ngôi mộ ở khu bảo tồn được dự tính cho bốn người.

– Tôi có thể làm gì đây?

– Lúc này thì không có gì, ngoài việc tìm số điện thoại của các đội gác biển ở Fyrudden và đợi cho đến khi tôi gọi lại.

– Anh định làm gì?

– Tìm cô ấy.

– Có thể là rất nguy hiểm đấy. Anh cần được giúp đỡ.

– Cậu có nghĩ đến các đồng nghiệp Norrköping không? Theo cậu thì mất bao nhiêu thời gian họ mới đến được đây?

– Dù sao thì anh cũng không thể một mình lục tìm cả hòn đảo chứ!

– Nó không rộng lắm đâu. Tôi bỏ máy đây. Sợ hết pin.

– Tôi đợi anh gọi lại. Cẩn thận nhé.

Wallander đi giày, cho điện thoại vào túi áo sơ mi và rời khỏi nhà sau khi dắt cái búa vào thắt lưng. Ông bắt đầu bằng việc xuống cầu tàu. Ông rọi đèn xuống mặt nước tối đen. Không có tàu. Ông vẫn không ngừng gọi tên Isa. Hai cái chòi trống không. Ông chạy quay lại ngôi nhà, đi vòng qua nó và đi vào lối đi xuất phát từ khu vườn. Những bụi rậm và những cái cây sáng lên trong luồng sáng mạnh của cái đèn pin. Ông mở cửa cái hầm đào sâu xuống đất. Không có ai.

Ông tiếp tục hét gọi tên cô. Đến nơi có đường rẽ về phía bến cảng tự nhiên, ông đứng sững lại. Phải chọn đường nào đây? Ông rọi đèn xuống đất nhưng không tìm được vết chân nào. Ông quyết định đi tiếp về điểm cực Bắc của hòn đảo. Lên đến những tảng đá, ông thấy mình sắp hết hơi. Cơn gió nhẹ thổi từ biển vào làm ông sững người vì sự lạnh giá. Ông chiếu đèn xuống những tảng đá. Một đôi mắt sáng long lanh hiện ra; con thú rất nhỏ và biến đi ngay. Một con chồn hôi. Ông tiếp tục đi lên đến điểm tận cùng, vừa đi vừa chiếu đèn vào những đoạn khúc khuỷu. Không có gì. Ông lại gọi tên cô. Ông chuẩn bị quay lại thì một tiếng động làm ông đứng im. Ông lắng nghe. Sóng đang đập vào những tảng đá. Nhưng còn có điều gì đó khác nữa. Đột nhiên ông hiểu ra: động cơ tàu thủy. Tiếng động vọng đến từ phía Tây. Cái vũng! Lẽ ra ông phải đi đường kia. Ông bắt đầu chạy nhưng, khi đến những hàng cây cuối cùng, ông đứng khựng lại, dỏng tai lên và rọi đèn ra biển. Tiếng động cơ đã biến mất. Một con tàu vừa đi khỏi, ông nghĩ. Nỗi sợ càng tăng thêm lên. Điều gì đã xảy đến với Isa? Ông quay trở lại dọc theo lối đi và cố gắng nghĩ điều mình phải làm. Các đội gác biển có chó không? Hòn đảo không lớn, nhưng một mình ông sẽ không bao giờ lục tìm hết được. Ông cố gắng hình dung ra những phản ứng của Isa. Cô đã nhảy qua cửa sổ chạy trốn vì sợ. Kẻ định phá cửa phòng cô cũng cùng lúc chặn đường lên phòng của Wallander. Cô đã nhảy qua cửa sổ và chạy trốn vào bóng tối. Hẳn là cô không có đèn pin.

Đột nhiên ông hiểu ra. Trong khi đi dạo trên đảo, cô đã nói với ông về một chỗ trốn nơi cô từng chơi đùa với người anh Jörgen của mình khi còn nhỏ. Ông cố nhớ họ ở đâu khi cô chỉ cho ông cái tảng đá lớn tạo thành điểm cao nhất của cả hòn đảo. Xa hơn một chút, sau chỗ rẽ, gần về đến nhà. Con đường ở chỗ đó đi giữa hai vách đá. Cô đã dừng lại và nói với ông: ở đây này. Ông vội rảo bước, quay lại chỗ vách đá, chiếu đèn lên bờ dốc theo hướng cô đã chỉ. Rồi ông rời khỏi lối đi và đi vào giữa những khối đá lớn, những bụi cây, những cái cây ngả xuống. Lên đến trên cao, ông đoán đằng sau những cây dương xỉ cao có một khoảng đất bằng. Ông thận trọng tiến lên, rẽ đám dương xỉ ra và chiếu đèn vào vách đá dựng ngược.

Cô nằm co quắp sát vách đá, trong chiếc sơ mi mặc đi ngủ, hai tay quấn quanh đầu gối và đầu nghiêng vào vai. Có vẻ như là cô đang ngủ. Nhưng ông hiểu ngay là cô đã chết. Kẻ nào đó đã giết cô. Một viên đạn vào trán.

Wallander ngồi phịch xuống đất. Ông có cảm giác toàn bộ máu trên người đang dồn lên đầu. Ông nghĩ mình sắp chết. Và điều đó không có chút quan trọng nào. Ông đã không bảo vệ nổi Isa. Không gì có thể bảo vệ được cô, cả đến cái chỗ trốn nơi cô vẫn thường chơi khi còn là một bé gái. Ông đã không nghe thấy phát đạn. Như vậy là súng có nòng giảm thanh.

Ông đứng dậy, dựa lưng vào một thân cây. Điện thoại di động rơi ra từ túi áo sơ mi của ông. Ông nhặt nó lên, lảo đảo quay trở về nhà, ngồi xuống một cái ghế trong bếp và gọi cho Martinsson.

Posted in: Uncategories