Người đọc sách: Thuật đen dày (exclusive)

Posted on 05/07/2011 bởi

1



“Thuyết đen dày” – Vương Sóc, nhà văn đương đại Trung Quốc nổi tiếng đã nhắc đến một thuật ngữ như vậy về một trong những truyền thống đặc thù văn hóa Trung Hoa – truyền thống mưu thuật – cùng với việc ông cáo giác về cái mà ông gọi là “Truyền thống lừa đời cướp danh” xuyên suốt hầu hết những tên tuổi lẫy lừng lịch sử văn hóa Trung Hoa (trong cuốn Người đẹp tặng ta thuốc bùa mê, NXB Văn hóa Thông tin, 2002).

Giọng phê phán của Vương tiên sinh khi đó, mỉa mai và bất bình, cung cấp một khái niệm đầy màu ấn tượng. Còn ở đây, trong cuốn đầu tiên của bộ truyện Thiên Môn hệ liệt này(*), Phương Bạch Vũ tạo dựng một pho truyện sử về cái truyền thống đó, bộ truyện xem như dã sử hay như truyện kiếm hiệp theo con đường Kim Dung tiên sinh – kiếm hiệp đội mũ lịch sử và đạo lý – đều được cả.

Bởi Thiên Môn được kể như một môn phái, với chữ “Thiên” trong “thiên thuật” tức thuật lừa đảo, mà phương diện võ thuật cao siêu của nó hầu như kỳ bí mờ ảo hoang đường, có lẽ chỉ như cỗ xe để chuyên chở con người mưu lược, như công phu rèn luyện các giác quan tinh nhạy để làm phương tiện hữu hiệu cho cơ trí vận hành.

Bởi nữa, như lời nhân vật Môn chủ Thiên Môn khi truyền trao cuốn bí kíp bị săn lùng nhất trên giang hồ võ hiệp, cuốn Thiên Môn Mật Điển, và chiếc nhẫn bạch ngọc tượng trưng ngôi Môn chủ, đã than thân tự trách mình vì “suốt ngày mê muội trong võ thuật, tuy luyện thành võ công cái thế, nhưng lại đã phân tán tinh lực” đáng dành cho trí tuệ, trong khi kẻ đàn em của lão thì “không quan tâm đến võ công, chỉ tập trung trí tuệ vào mưu lược kế sách, khổ công nghiên cứu yếu điểm của con người” và đạt đến mức “thấu suốt” về tính cách con người (tr.203); lại bảo võ công trong thiên hạ rất đa dạng “nhiều như lông trâu” mà “tinh lực của con người là có hạn” dẫu có cả đời khổ luyện chưa chắc đã thành được một vài, trong khi “trí tuệ thì vô hạn”, chỉ cần “nghiên cứu tinh thông mật kỹ của bản môn rồi thu phục cao thủ trong thiên hạ về dưới trướng của mình” (tr.207) – một thứ “mật kỹ” chính trị rõ ràng, nguyên tuyền; cho nên, lão cũng đã nói: “Trung Hoa đã nhiều lần thay đổi triều đại, không lần nào không thấp thoáng hình ảnh của các bậc tiền bối Thiên Môn chúng ta, họ hoặc thành vua hoặc thành tướng, mỗi người đều dựa vào trí tuệ mưu lược viết nên mấy nghìn năm lịch sử truyền kỳ của Trung Hoa” (tr.160) ; và bọn họ đã “viết nên” lịch sử bằng cách bí mật âm thầm “huấn luyện và bồi dưỡng” những nhân tài chưa ai biết đến trước khi bọn họ bất thần nổi lên, như Tô Tần, Trương Nghi, Bàng Quyên, Tôn Tẫn, Trương Lương (tr.163), rồi đương thời câu chuyện này, như Chu Nguyên Chương người khai lập nhà Minh; và điều kinh động hơn cả: người thầy sáng lập Thiên Môn chính là Vua Vũ, ông hoàng đế ẩn hiện trong mây mờ cổ đại, người-trị-thủy vạch bờ cõi Trung Hoa chia chín châu, sáng lập triều đại phong kiến thế tập đầu tiên – nhà Hạ (tr.160).

Một lịch sử, tất nhiên, không chỉ có lừa đảo, nhưng dựa trên nền tảng là các “mật kỹ” lừa đảo; hay, trong một ví dụ cụ thể, là “cách tạo ra sự bất công trong một trò chơi công bằng” (tr.167); mà có lẽ nên hiểu đúng ý tứ trong lời lẽ này của nhân vật, là, trong lúc chơi cái trò công bằng – ở đây là các món cờ bạc đỏ đen kinh điển nhưng được mô hình hóa trong ý thức như trò chơi chơi những “tính cách con người”, “yếu điểm của con người”, do đó món đặt cược hay chuyện được-thua là nhắm đến ưu thế cơ hội, sinh mạng và quyền lực; và với lời giáo huấn cuối cùng, rằng điểm yếu của con người có thể là Nhân, là Trung, Hiếu, Nghĩa, là Lợi, hay là Thế lực, chỉ cần triệt để khéo léo phân biệt và lợi dụng, việc gì làm cũng xong (tr.208) – thì câu chuyện này đã đưa vào bối cảnh và tiền đề của nó việc tạo dựng loại huyền thoại phái sinh một cách tư biện từ các huyền thoại lập quốc, một huyền sử phát sinh về chính trị truyền thống Trung Hoa: thiên hạ đại loạn, chúng ta đại trị, lập kế dùng người.

Câu chuyện của cuốn sách này không phải sự kể lại mà là sự tạo tác một huyền thoại, cũng như các truyện kiếm hiệp dã sử điển hình cho cách thức văn chương tạo tác huyền thoại như là một huyễn tưởng về quá khứ. Thời đại các huyền thoại thật sự đã qua đi từ những “ngày xửa ngày xưa” nhưng động lực và mong muốn tạo ra huyền thoại thì vẫn còn. Hay có lẽ nên nói đó là một trong vài trò chơi cổ xưa nhất, một trò chơi lớn, mệnh hệ đến sức sống của tinh thần, và do đó luôn luôn truyền thừa đời này qua đời khác. Có lẽ thật lạ lùng khi thấy những huyền thoại đều là huyễn tưởng về quá khứ, chẳng hạn khi Khổng Phu tử đưa lên mẫu hình lý tưởng phong kiến “nhà Chu” mà dường như các triều đại Trung Hoa từ sinh thời ông cho đến Cách mạng Tân Hợi chẳng bao giờ noi theo, hay phải nói là ngày càng tha hóa đi. Cho nên cái phi thường của huyền thoại, với đủ vẻ bất ngờ của chúng, luôn nằm trong khuôn khổ ước lệ về cái phi thường. Đó là bộ môn mỹ học sống động: ước lệ là một cố gắng hình thức hóa, điển chế hóa những liên hệ bất thành của tính người với các huyền hoại về chính cái tính người đó.

Nhân vật chính của truyện này vừa xuất hiện đã bộc lộ tính cách phi phàm: thà chết chứ không chịu nhục, quyết không đánh đổi “sự tôn nghiêm” (tr.10) lấy một ngụm sống sót đã bị phỉ nhổ, bởi “Ta là con người, không phải súc vật” (tr.12); dẫu gã chỉ là một tú tài trẻ bụng đầy kinh sử với đạo thánh hiền, tự biết mình “trói gà không chặt” nhưng tự tin mình có sức mạnh của phẩm cách và cái học hơn người… Những nét tính cách và tiểu sử của nhân vật này đều rất ước lệ, không chỉ ở chỗ tính cách ấy có thể dùng để hình dung một điển hình chung nho sĩ, mà đặc biệt ở một vài nét cường điệu: gã thư sinh rất quả quyết về sức mạnh đạo lý của “chính danh”, của “cương thường”, cứng nhắc tin tưởng, biện biệt phải trái thiện ác theo sách vở và luật lệ (“Đại Minh luật lệnh” – tr.39,66), đến mức hồ đồ không đếm xỉa thực trạng xã hội tình thế. Đấy là tiêu biểu cái thiên hạ nhị nguyên của Nho giáo trong một mô hình sản phẩm con người của nó. Bởi vậy có một ấn tượng vững vàng sinh động toát ra từ hình ảnh nhân vật này ngay từ bước đi đầu tiên của gã trong truyện: gã mang thiên hạ trong mình, bởi lẽ cái thiên hạ đó đã được ước lệ kỹ càng thông qua hệ thống sách vở Nho gia, thành một sơ đồ các mối liên hệ tương quan và cùng với chúng là các mô thức hành vi, tình cảm, ứng xử – tất cả còn lại chỉ là ta ở đâu trên sơ đồ đó. Tính lịch sử của câu chuyện này như vậy đặt nền tảng vững ngay trong nội hàm hình ảnh nhân vật chính, mà các chi tiết có tính lịch sử khác tô điểm thêm vào.

Tuy nhiên nhân vật tú tài nho học điển hình như vậy lại được trao một số phận phi thường theo kiểu “trai thời loạn”, bỗng một ngày “ngộ biến tòng biến”, bị hãm vào cảnh oan khốc lao tù, chịu khổ sai lưu đày… rồi dấn mình vào “sát giới”; và rồi sẽ lột xác hóa thân lên đường theo dấu các “thiên hùng” – những đại cao thủ “làm nên lịch sử” thuộc môn phái Thiên Môn… Các tình huống biến đổi này được trình bày trong một nhịp điệu kịch tính hiện đại, hấp dẫn, nhưng không bao hàm sự phát triển tính cách nhân vật, mà rõ ràng nhằm tới một ý tưởng phản đề – “Giờ ngươi đã thấy được gì trong kinh điển thư tịch?” – “Mưu tính hại nhau, mưu kế. Phản nghịch hung tàn, trơ trẽn vô sỉ” (tr.158).

Nhà văn hiện đại Vương Sóc, như đã dẫn ở trên, cũng đã đưa ra ý tưởng phê phán đúng như vậy, và ta có thể hiểu rằng nhận thức đó hoàn toàn không mới mẻ, hẳn đã song song tồn tại với “đạo chính nhân quân tử” ngay từ các nguồn gốc huyền thoại của cái đạo (Khổng) ấy.

Điều có lẽ hay có thể nằm ngoài chủ đích của câu chuyện, cho dẫu thế đi nữa, nhưng chắc chắn bao hàm trong đó: “kinh thư điển tịch” ấy là một bộ giáo án về mưu lược, một bộ giáo án ngụy trang – đã ước lệ kỹ càng! – về chiến lược căn bản, cũng vẫn theo lời Vương Sóc, chiến lược “Tâm đen mặt dày” hay cái “thuật đen dày tàn khốc”.

Vậy là nó không thể thiếu cái bộ mặt ước lệ kia được; cụ thể thì nhân vật Công tử Thiên Môn không thể không có trước hết cái thân phận thư sinh ngang bằng sổ ngay làu thông kinh sử – cái hình thức bất biến để chứa đựng cái đen dày vạn biến. Cái mối liên hệ bất thành, luôn luôn dang dở của tính người với huyền thoại về nó thốt ra từ miệng gã Công tử sau cuộc hạ sát cơ nghiệp tài chính và sinh mạng một đại gia – gã bảo: “Đều nói là trên đầu ba thước có thần linh, nhưng ai đã thật sự gặp được thần linh chứ?” (tr.439).

Nói theo lối ấy, thì nếu không có trời cao làm sao biết được cái thuật đen dày.

Nguyễn Chí Hoan

* Đọc Thiên Môn Công tử, tiểu thuyết của Phương Bạch Vũ, Đỗ Đình Huấn dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 2011