Người đọc sách: Trần Dần giữa những cơn mưa (Exclusive)

Posted on 07/07/2011 bởi

0



Trần Dần đến từng dấu phẩy, tôi nghĩ đó là nhận xét thích đáng, ít nhất là với cuốn tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn, chứ không phải ngoa ngôn. Ông thuộc về những người mà số phận cá nhân gắn liền với số phận những bản thảo, thêu dệt thành tấm thảm khắc chìm một thứ mật mã dưới lớp hoa văn, mà giải được nó, người ta có thể sở hữu kho báu, phép lạ, cũng có thể chịu lời nguyền. Điều gì thuộc về số phận, cũng sẽ quyết định bởi số phận. Chừng như tôi là người đọc mang sẵn một thứ chủ nghĩa duy tâm chủ quan và bi quan. Tôi không cho rằng việc những tác phẩm của Trần Dần được phơi bày dần ra ánh sáng, hơn một thập niên sau khi ông mất, và phải gấp ba, bốn lần số thời gian đó tính từ những thời điểm bản thảo được hoàn thành, có thể soi sáng số phận ông, cũng chưa chắc giúp ông có nhiều người đọc hơn. Bí ẩn dưới tấm thảm đó vẫn mới chỉ lộ ra đôi ba kí hiệu, vừa mời mọc, vừa cấm đoán.

Với cuốn tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn, cuốn tiểu thuyết lần đầu ra mắt sau 44 năm nó được hoàn thành ở dạng bản thảo, người ta lại biết thêm một tác phẩm của quá khứ làm xạm mặt hiện tại: những gì là cách tân theo lối phương Tây như tự sự đa điểm nhìn, trùng phức thời gian – không gian, xóa bỏ thời tính, hình thức tiểu thuyết – nhật kí, tiểu thuyết – trinh thám, dòng ý thức,… thường được dùng như lời khen tặng với các nhà văn ham tìm tòi của Việt Nam thời đang sống, Trần Dần đã “thể nghiệm” cả. Mà Trần Dần chắc chắn không phải là gia tài ngoại biệt của Quá Khứ – phải viết hoa. Cũng vậy, với Dương Nghiễm Mậu, Bình Nguyên Lộc,… và nhiều các tác giả văn – thơ khác. Khoan bàn đến giá trị, chỉ riêng việc Quá Khứ đó được hiện diện trở lại, đã là những tài sản quý, và sẽ gạt bớt đi những nỗ lực-thừa. Người ta nói rằng người trẻ hiện nay nên nối tiếp quá khứ. Nhưng tôi nghĩ phải biết thêm: nối tiếp cái quá khứ nào?

Dostoievski, tác giả tiểu thuyết Tội ác và trừng phạt mà hình bóng nó chập chờn các trang văn của những ngã tư và những cột đèn, được coi là một nhà thơ dù không làm thơ. Trần Dần vốn dĩ không phải một nhà–văn xuôi. Ông là nhà thơ mọi lúc. Từ góc độ một cuốn tiểu thuyết–văn xuôi, cá tính các nhân vật (dù được xây dựng với lời kể từ ngôi thứ nhất, xưng “tôi”) dường như bị xóa nhòa, đúng hơn, bị đồng nhất với cái Tôi–Trần Dần. Ông không giỏi dựng cốt truyện mạch lạc, không giỏi “cá tính hóa” nhân vật bằng tâm lý, bằng lời thoại. Nhìn tổng thể, những ngã tư và những cột đèn đích thị một bài thơ-trường thiên. Nhân vật thực sự của cuốn tiểu thuyết–thơ này là một Tôi đa nhân cách: một Tôi luôn “sinh sự” với Bóng, với Sọ, với Chữ. Xin dẫn dụ một đoạn: “Tôi đưa tay lên sọ. Không phải vì đau đầu. Tôi lại dừng chân bên một ngã tư: tôi rụt rè không định rẽ ngả nào. Biết đâu rẽ ngã tư kia tôi không gặp gió độc? Biết đâu ngả nào không gió thổi? Tôi đưa tay lên sọ. Tôi đứng im: hình như giữa một ngã tư. Tôi không có cả một ai để bắt chước. Tôi đến dưới một cột điện sáng đèn. Nhưng tôi nghĩ lung tung rồi. Tôi giẫm phải bóng tôi trong phố. Bóng tôi đêm nay lúc nào cũng im.” (tr 274). Người đọc có lẽ nên tạm gạt ra ngoài mọi chờ đợi về cốt truyện, nhân vật, tâm lý, triết lý để thưởng thức sự phong phú và độc đáo của ngôn từ, cả lối trình bày chữ riêng biệt, như trong các bài thơ của ông. Đây là một tác phẩm bất khả tóm tắt, mà đoạn đối thoại của các nhân vật trong truyện có thể góp phần lí giải lựa chọn về phong cách của Trần Dần: “Kể ra thì dài. Mày muốn nghe tóm tắt hay nguyên văn? Tôi nói: “Vừa tóm tắt vừa nguyên văn. Miễn lí sự. Miễn tả cảnh” (tr 225).

Nhưng phong cảnh vẫn mênh mông không gian, thời gian trong tiểu thuyết này: “Phong cảnh của tôi, là phố nội thành, phố ngoại thành, là những ngã tư, những cột đèn, là mưa mùa đông, mưa mùa hè, là quyển lịch bốn mùa”. Cả thơ Trần Dần, cả cuốn tiểu thuyết-thơ này đậm đặc một thứ mùi, một thứ mùa Hà Nội, ở thời ông sống mà nhịp điệu và không khí riêng biệt của nó là “những ngã tư, những cột đèn” và nhất là những cơn mưa. Những cơn mưa, như tiếng đàn nhịp, như sự mịt mùng, như tuyệt vọng lẫn hi vọng cùng lúc không chỉ là phông cảnh đặc trưng cho cuốn tiểu thuyết này, cho thơ Trần Dần, cho văn nghiệp ông, mà còn như một biểu trưng của chính số phận ông, số phận bản thảo ông: một số phận chỉ-có-mưa-sa. Nếu cần đặt một tên khác cho cuốn sách này, tôi nghĩ, những cơn mưa có thể là một gợi ý. Một Cái Tôi-Trần Dần vừa chìm lấp vừa khắc tạc trong những cơn mưa.

Tôi đọc cuốn tiểu thuyết này, lúc đầu thất vọng một cách rất thường: Trần Dần không giỏi viết văn xuôi! Nhưng sực nhận: tôi chờ đợi Trần Dần, chứ đâu phải đợi một nhà văn xuôi? Càng đọc, cái phong cảnh chữ càng lôi cuốn tôi, mà đó hình như chính là một trong những kí hiệu của “mật mã Trần Dần” dưới tấm thảm dệt. Văn chương Trần Dần là con ngựa bất kham, dù người này cưỡi lên được một đoạn đường, kẻ khác thì không (dù tất cả đều bất khả thuần hóa nó), khẳng định được sức bền và cả “chí lớn” của nó, như những tấm thân người đồ sộ trong các bức vẽ của ông.

Nhã Thuyên

(đọc Những ngã tư và những cột đèn – Tiểu thuyết, Nhã Nam và nxb Hội Nhà văn, 2010)