Thiên Môn Công Tử. Chương1 (1)

Posted on 11/07/2011 bởi

1



I. Xà hoạ

Nhân chi sơ, tính bản thiện, tính tương cận, tập tương viễn; cẩu bất giáo, tính nãi thiên; giáo chi đạo, quý dĩ truyền…”. Cùng với tiếng đọc oang oang của lũ trẻ, một ngày mới của Lạc Văn Giai lại bắt đầu.

Nơi đây là một ngôi làng nhỏ, cảnh sắc tươi đẹp bên ngoài thành Dương Châu, phía trước thôn là dòng nước nhỏ róc rách có cây cầu bắc ngang, sau thôn là núi non bao bọc, phong cảnh nên thơ, tiếng tăm vang khắp xa gần. Người trong thôn hầu hết đều mang họ Lạc, vì thế mà được gọi là Lạc gia trang. Lạc Văn Giai là tú tài duy nhất trong thôn, tổ tiên xưa kia cũng là quan trong kinh thành cáo lão về quê, chỉ tiếc là đến đời cha của Lạc Văn Giai vì mê đánh bạc không những bán sạch gia tài còn bị người ta thúc nợ đến mức phải treo cổ tự tử, Lạc gia từ đó bắt đầu lụi bại. May mà Lạc Văn Giai có một người mẹ hiểu biết, cần cù lương thiện, quản giáo nhi tử một khắc không rời, không những một minh nuôi con khôn lớn, còn cho gã đến trường tư ở thôn bên học hành, cuối cùng cũng nuôi dạy Văn Giai thành tú tài duy nhất trong thôn. Được mẫu thân quản giáo nghiêm khắc, từ nhỏ Lạc Văn Giai đã lập chí muốn thi khoa cử để lập thân, học hành thành tài rồi ra làm quan giống tổ tiên ngõ hầu chấn hưng gia tộc. Để chia sẻ bớt gánh nặng cho mẫu thân, ngoài thời gian khổ học chuẩn bị cho khoa cử, Lạc Văn Giai còn mượn từ đường trong thôn mở trường học tư, một mặt dạy cho lũ trẻ trong thôn biết chữ, mặt khác cũng kiếm thêm được chút tiền trang trải trong nhà.

Tiếng vó ngựa ngoài cửa sổ thu hút ánh mắt tò mò của lũ trẻ, tiếng đọc sách bất giác nhỏ hẳn đi. Lạc Văn Giai đưa mắt theo hướng âm thanh phát ra, liền thấy hai vị công tử con nhà giàu mặc áo gấm, cưỡi ngựa chầm chậm đi qua cửa sổ, ngoài ra còn có mấy tên tuỳ tùng tiền hô hậu ủng nữa. Hai người chuyện trò đang rất hứng khởi, một vị công tử nho nhã mặc áo trắng, cưỡi ngựa trắng cò không ngừng dùng roi ngựa chỉ ra xung quanh, thần thái hết sức tiêu sái ung dung.

Lạc Văn Giai nhận ra vị bạch y công tử đó tên là Nam Cung Phóng, là tam công tử của Nam Cung thế gia nức tiếng trong thành Dương Châu. Năm đó phụ thân gã thua bạc đem cả gia sản bán cho Nam Cung thế gia, vì thế hầu hết ruộng vườn ở Lạc gia trang này đều thuộc về họ cả, chỉ còn mấy miếng đất làm nghĩa địa của tổ tông là vẫn còn trong tay trưởng họ. Gần đây, nghe nói Nam Cung thế gia muốn lấy lại đất ruộng trong Lạc gia trang để chuẩn bị xây dựng sơn trang nghỉ mát và trường đua ngựa. Tin tức đó khiến mọi người trong thôn đều hoang mang lo sợ, ai nấy đều hy vọng trưởng họ Lạc Tông Hàn có thể ngăn được việc này.

“Không nhìn nữa, tiếp tục đọc sách!” Lạc Văn Giai vỗ vỗ lên bàn cảnh cáo lũ trẻ. Gã chẳng hề có chút hứng thú gì với đám công tử ca nhi ấy, chỉ muốn khổ học thi thư, sớm ngày thi khoa cử đạt công danh.

Đến khi mặt trời ngả về Tây, Lạc Văn Giai mới thu dọn văn phòng tứ bảo, cho lũ trẻ nghỉ học. Lũ trẻ chạy ùa ra khỏi từ đường như ong vỡ tổ, vội vội vàng vàng trở về nhà, gian từ đường bỗng trở nên yên tĩnh. Lạc Văn Giai sắp xếp lại bàn ghế cho ngay ngắn xong, cũng dọn dẹp sách vở chuẩn bị ra về. Vừa ra đến cửa, liền thấy một thiếu nữ áo xanh xách giỏ tre đợi ngoài cửa. Nàng trông  thấy Lạc Văn Giai, liền hơi ngượng ngùng, nhưng vẫn hân hoan bước đến.

“Hân Di!” Trong mắt Lạc Văn Giai thoáng lộ vẻ khác thường, vội chắp tay thi lễ.

“Văn Giai ca!” Thiếu nữ đến trước mặt gã, cúi đầu đưa cái giỏ trong tay ra nói: “Đây là hoa quả nhà muội mới hái hôm nay, mời huynh và bá mẫu nếm thử.”

Lạc Văn Giai vội đỡ lấy giỏ hoa quả, định nói mấy câu cảm ơn nhưng lại chẳng biết nên mở miệng thế nào, cứ lúng ba lúng ngây người ra đó. Cô nương kia len lén ngước nhìn gương mặt lung túng của gã , không khỏi nhoẻn miệng tủm tỉm cười, xua tay nói: “Huynh về sớm đi, kẻo bá mẫu lo lắng.”

“Vâng!” Lạc Văn Giai vội trả lời. Thiếu nữ cúi đầu chờ thêm chút nữa mới nói nhỏ “Muội về trước đây!”

“Ơ kìa!” Lạc Văn Giai ấp úng, đưa mắt nhìn nàng đi xa dần. Chỉ thấy đối phương đi được độ chục bước, liền ngoảnh đầu lại vẫy tay chào, nét mặt ngượng ngùng e thẹn. Lạc Văn Giai bần thần cả người ra, không khỏi đờ ra nhìn như si như dại. Tới khi bóng dáng thiếu nữ khuất hẳn, gã mới lưu luyến thu ánh mắt lại, xách giỏ táo đỏ tươi đó đưa lên mũi khe khẽ hít nhẹ, mà không nỡ cắn một miếng.

Di nhi! Lạc Văn Giai thầm gọi nhũ danh nàng thiếu nữ, chỉ thấy một cảm giác ngọt ngào dâng lên trong dạ. Thiếu nữ ấy là thiên kim của nhà giàu nhất thôn Triệu Phú Quý. Triệu Phú Quý là người nơi khác đến, năm đó vì muốn tìm chỗ dựa, lão từng hứa với cha của Lạc Văn Giai sẽ gả con gái vào nhà họ Lạc. Sau này Lạc gia lụn bại, Triệu Phú Quý đã có ý từ hôn, có điều đôi trẻ là cặp thanh mai trúc mã lớn lên bên nhau, từ lâu đã không thể tách rời nhau ra được. Triệu Phú Quý suýt vì thế mà trở mặt với Lạc gia, nhưng về sau thấy Lạc Văn Giai cần cù hiếu học, hoàn toàn khác với phụ thân gã, lại còn trẻ đã thi đỗ tú tài, tiền đồ rộng mở không thể đo đếm. Triệu Phú Quý khi đấy mới mắt nhắm mắt mở làm ngơ cho hai người qua lại, tạm thời ngầm thừa nhận hôn ước kia.

Theo lễ giáo, nam nữ có hôn ước khi chưa thành hôn thì không được gặp nhau, có điều đây là một thôn xóm nhỏ xa xôi, các lễ giáo đều hết sức giản tiện đi, vậy nên Lạc Văn Giai và Triệu Hân Di mới có cơ hội thường xuyên gặp nhau. Nhưng tuổi tác hai người lớn dần lên, tờ hôn ước mười bảy năm trước, ngược lại đã khiến hai người không thể tự nhiên vô tư như thủa còn thơ vô ưu vô lự.

Lạc Văn Giai ngây ngây ngốc ngốc nhìn theo hướng đi của Triệu Hân Di, hồi lâu sau mới lưu luyến thu hồi ánh mắt, đưa giỏ táo lên ngửi một hơi rồi mới chầm chậm đi về nhà.

Triệu Hân Di vòng qua ngã rẽ nhưng không vội đi xa mà nấp vào gốc cây nhìn lén. Thấy Lạc Văn Giai bần thần ôm giỏ táo về nhà, nàng không nhịn được tủm tỉm cười, khẽ mắng một câu “Đồ ngốc!” rồi vung vẩy bím tóc quay người bước đi.

Vừa quay người lại, bỗng có tiếng ngựa hý vang khiến Triệu Hân Di giật thót mình, chỉ thấy một con tuấn mã trắng muốt như dải lụa dựng đứng hai vó trước mặt mình, suýt chút nữa thì hất văng người ngồi trên lưng ngựa xuống. Người cưỡi ngựa kia đùng đùng nổi giận, đang định mở miệng quát mắng, nhưng khi nhìn rõ dung nhan của Triệu Hân Di thì lại bất giác ngẩn người tại chỗ.

Triệu Hân Di mất một lúc mới hoàn hồn, vừa nãy nàng mải nhìn lén Lạc Văn Giai, không hề để ý đến tiếng vó ngựa ở sau lưng đang phi tới, quay người lại suýt chút nữa thì người ngựa va vào nhau. Nàng đang định xin lỗi, bỗng phát hiện người trên lưng ngựa đang nhìn mình chăm chăm. Mặc dù trong thôn cũng có không ít gã trẻ tuổi cười cười cợt cợt lén nhìn nàng, nhưng ánh mắt nhìn trắng trợn không hề kiêng dè thế này thì Triệu Hân Di mới gặp lần đầu tiên, trong lòng không khỏi sợ hãi. Nàng chẳng kịp nói lời xin lỗi, đã vội cúi đầu bước đi. Trong lúc vội vã cũng chẳng kịp nhìn xem mặt mũi người đó như thế nào, chỉ lờ mờ thoáng thấy đó là một vị công tử trẻ tuổi mặc đồ trắng như tuyết, dung mạo hình như cũng không khó coi lắm, nhưng ánh mắt thì hơi khiến người khác sợ hãi. Đối với Triệu Hân Di, hạng người ấy thuộc về một thế giới hoàn toàn khác, hoàn toàn không liên quan gì đến nàng cả. Thế nên khi về đến nhà, nàng đã quên hết chuyện vừa xảy ra trên đường.

“Đẹp! Đẹp quá!” Vị bạch y công tử cưỡi ngựa trắng nhìn theo bóng Triệu Hân Di đi xa dần, lẩm bẩm như thể đang tự nói với mình: “Không ngờ thôn làng hẻo lánh này cũng có một đoá u lan!”

“Tam công tử thật tinh tường!” Gã công tử áo gấm đi bên cạnh vội gật đầu phụ hoạ, “Dương Châu tuy là chốn phồn hoa đô hội giai nhân tấp nập, nhưng cũng rất ít khi thấy tuyệt thế mỹ nhân không nhuốm chút bụi hồng trần thế tục như vậy.”

Gã bạch y được gọi là “Tam công tử” kia chẳng không đáp lời đối phương, cứ dõi mắt nhìn theo hướng Triệu Hân Di vừa đi khuất, khe khẽ ngâm lên:

Sơn thôn có giai nhân, tuổi chưa tròn đôi tám

Mày như trăng núi xa, da như tuyết trắng

Đôi má xinh hồng hồng, mắt phượng ngầm chứa xuân

Môi mềm như hoa nở, bước chân rộ hoa sen

Tuấn mã gặp mỹ nữ, trù trừ không dám lên

Chim hồng thoáng lướt qua, cứ ngỡ tiên nữ giáng.

 

 “Tam công tử thật giỏi thơ phú!” Công tử áo gấm vỗ tay tán dương: “xuất khẩu thành chương, ba bước thành thơ. Thiết tưởng các bậc phong lưu tài tử thời xưa, chắc cũng chỉ được vậy mà thôi.”

“Đường công tử quá lời rồi!” Chỉ thấy vị công tử áo trắng kia xua tay nói, “Chỉ là hứng khởi nhất thời thôi. Bài thơ kém cỏi của tại hạ chỉ hình dung được một phần vạn sắc đẹp của nàng thiếu nữ kia! Chỉ tiếc là đến tên của nàng ấy chúng ta cũng không biết.”

Công tử áo gấm liền cười hì hì nói: “Vậy sao công tử còn không đuổi theo hỏi đi! Với thần thái phong lưu tuấn tú cùng sự bác học đa tài của Nam Cung thế gia tam công tử chẳng phải là dễ như trở bàn tay hay sao!”

“Chúng ta đang có việc gấp cần làm đó!” Nam Cung công tử tiếc nuối lắc đầu. “Phương viên mấy chục dặm quanh đây, chỉ còn lại mỗi Lạc gia trang này thôi, nếu như không lấy được thì Nam Cung Phóng ta thật vô tích sự!”

Đường công tử kia không cho là vậy: “Lần này chúng ta ra giá cao, lại thêm đích thân công tử xuất mã, dùng cả ân lẫn uy, ta không tin lão già Lạc Tông Hàn ấy lại không biết thức thời.”

Nam Cung Phóng lắc đầu: “Lạc Tông Hàn rất cứng đầu, sợ rằng lão sẽ không nghe.”

“Cứng đầu?” Đường công tử cười lạnh lùng. “Lẽ nào có thể cứng hơn Vô Ảnh Sưu Hồn thủ của công tử và ám khí độc môn của Đường Tiếu này?”

Gương mặt Nam Cung Phóng thoáng hiện lên nét cười chế giễu, nhưng chỉ thản nhiên nói: “Nam Cung thế gia là gia tộc có tiếng tăm địa vị ở Dương Châu, há có thể công khai cậy mạnh hiếp yếu, để để người đời cười chê? Cho dù vạn bất tắc dĩ phải dùng biện pháp mạnh thì tuyệt đối không thể đích thân ra tay được.”

Đường Tiếu tỏ vẻ coi chường, bĩu  môi nói: “Làm gì mà phiền phức như vậy? Chuyện này mà ở Tứ Xuyên nhà ta, kẻ nào dám cả gan khiến Đường Môn chúng ta không vừa lòng, trong vòng ba ngày nhất định sẽ chết không nhắm mắt.”

Nam Cung Phóng chỉ cười khẩy miệt thị bằng giọng mũi, không nói gì nữa. Rồi bỗng nhiên ghìm cương ngựa trước một căn tứ hợp viện tường đỏ ngói xanh, lấy roi ngựa chỉ: “Đến rồi!”

Khi Lạc Văn Giai về đến nhà, trời đã sẩm tối. Mẫu thân gã đang bận rộn trong bếp, trong nhà thơm phức mùi cơm canh. Lạc Văn Giai vội đưa giỏ hoa quả cho mẹ: “Mẹ! Hân Di gửi để mẹ nếm thử.”

Mẫu thân gã không nhận lấy, mà chỉ buồn bã thở dài: “Mẹ không ăn nổi.”

“Tại sao lại vậy?” Lạc Văn Giai thấy thần sắc của mẹ có gì đó khác lạ vội hỏi.

“Nhà ta gia cảnh bần hàn, nhưng cũng là thư hương thế gia. Lẽ nào con cứ cam tâm nhận đồ người ta cho mãi? Mặc dù con và Hân Di có hôn ước, nhưng nếu như con không thể thi đậu thành danh, thì làm sao đón nó về được? Cứ xem như Hân Di không quan tâm những điều đó, thì e rằng phụ thân nó cũng không đáp ứng đâu.”

“Mẹ dạy rất phải.” Lạc Văn Giai vội đáp, “Con nhất định sẽ nỗ lực học tập, sớm ngày thi đậu…”

Đúng là đồ vô dụng!” Mẫu thân gã vừa dọn cơm canh lên bàn, vừa nửa đùa nửa thật trách móc, “Tổ tiên nhà ta đời đời đều học hành đọc sách, không biết bao nhiêu người là tiến sĩ, giải nguyên, còn con, nếu cả cử nhân cũng không thi đỗ, thì còn mặt mũi nào nhìn người ta chứ?”

“Vâng, vâng, vâng!” Lạc Văn Giai vội cười xoà đáp, “Con nhất định sẽ khổ công học tập, giành lấy giải nguyên, để mẫu thân đại nhân được làm đại lão phu nhân!”

“Lẻo mép!” mẫu thân gã ngoài miệng thì trách mắng con, nhưng nét mặt lại đầy sự yêu thương. Bà nhanh nhẹn bày dọn cơm canh tươm tất mới cất tiếng gọi con trai, “Ăn cơm thôi, hôm nay trời lạnh đêm dài, con cũng đừng học khuya quá.”

Hai mẹ con cơm nước xong xuôi, Lạc Văn Giai đợi mẹ dọn dẹp xong, đi vào nghỉ ngơi, mới đi vào gian thư phòng khuất nẻo ở nhà sau khổ học. Tuy nhà họ Lạc gia đạo suy vi, ruộng vườn phải bán hết, nhưng dẫu sao trước kia tổ tiên cũng từng làm quan trong triều, căn nhà cũ tuy đã rách nát, nhưng rất rộng rãi, không những có bếp, thư phòng ở hậu viên, mà trong thư phòng còn có đủ các loại tàng thư sách vở. Nếu không phải vậy, sợ rằng Lạc Văn Giai chẳng có lấy cơ hội đọc sách nữa.

Trong ánh đèn dầu vàng vọt, Lạc Văn Giai lại bắt đầu một đêm khổ học. Vừa đọc xong quyển “Luận ngữ”, gã bỗng nhiên nghe thấy trong hậu viện vẳng ra tiếng “lục cục”, giống như có người vừa nhảy trên tường hậu viện xuống. Lạc Văn Giai vội cầm đèn đi ra kiểm tra, trong lòng lấy làm kỳ quái, căn nhà rách nát thế này, lẽ nào trộm cướp cũng ghé thăm hay sao?

Thấy đám cỏ dại ở chân bờ tường lay động, Lạc Văn Giai đưa đèn lên soi, bất giác giật nảy mình. Trong đám cỏ dại có một lão già toàn thân đầy máu, hai mắt nhắm nghiền đang nằm thở thoi thóp, hình như là đã hôn mê. Sau một thoáng kinh ngạc ban đầu, Lạc Văn Giai gọi nhỏ: “Lão bá, lão bá!”

Lão già trả lời một tiếng mơ hồ, nhưng không hề mở mắt ra. Lạc Văn Giai bản tính lương thiện, lấy lão già bị trọng thương, vội vực dậy chập choạng dìu vào thư phòng, đặt nằm lên cái ghế gã vẫn hay nằm nghỉ, đến lúc đó, gã mới nhìn kỹ diện mạo của lão già này. Chỉ thấy niên kỹ lão cũng không cao lắm, nhưng hai bên tóc mai đã bạc màu, tướng mạo khắc khổ từng trải, gương mặt gầy trơ xương, dù hai mắt nhắm nghiền, nhưng gương mặt ấy vẫn toát lên một vẻ cao siêu lạ thường. Thấy lão ta mặt trắng như tờ giấy, hơi thở yếu ớt, Lạc Văn Giai vội hỏi: “Lão bá, ông bị thương ở đâu? Để tôi lập tức đi mời đại phu nhé!”

Nói đoạn, y đang định quay người đi thì bị lão già kia nắm cổ tay kéo lại. Bàn tay lão già mạnh mẽ như vuốt ưng, tuy lão đang bị trong thương, nhưng Lạc Văn Giai cũng không thể giằng ra nổi. Chỉ thấy lão ta cố gắng chỉ vào trước ngực mình nói: “Ta…có thuốc ở đây!”

Lạc Văn Giai vội mở vạt áo lão ra, quả nhiên thấy có hai bình thuốc. Gã cầm cả hai lọ lên  hỏi: “Dùng như thế nào?”

“Thuốc viên uống, thuốc bột bôi ngoài!” Lão già cố hết sức nói được vài lời đã mệt đến thở không ra hơi.

Sau khi y lời cho lão già uống thuốc, Lạc Văn Giai lại xé mảnh áo ngực đẫm máu của lão ra, ai ngờ trong đó máu thịt be bét, lão ta đau quá kêu lên một tiếng rồi lập tức ngất đi. Lạc Văn Giai vội lóng ngóng lấy lọ thuốc bột rắc vào miệng vết thương, sau đó xé vạt áo băng lại. Xong xuôi đâu đó, gã mới để ý thấy trong áo lão già còn một cái bọc nhỏ buộc sát vào ngực, đã thấm đẫm máu me. Gã sợ nó dính vào vết thương, bèn nhẹ nhàng gỡ ra. Cái gói này không nặng lắm, vuông vuông dài dài như một quyển sách. Lạc Văn Giai trời sinh đã mê sách, thấy lão già vẫn hôn mê chưa tỉnh, liền không sao kìm được tò mò mà mở cái bọc đó ra xem. Quả nhiên bên trong đúng là một cuốn sách da dê dày khoảng nửa tấc, nhìn bề ngoài thì có vẻ như đã rất lâu đời, ngoài bìa còn viết bốn chữ theo kiểu chữ Triện cổ rất hiếm khi gặp – Thiên Môn Mật Điển!

Lạc Văn Giai từ nhỏ đã đọc qua rất nhiều sách, các loại sách của Bách gia chư tử, các thứ dã sử truyền kỳ cũng đều biết hết, nhưng xưa nay chưa bao giờ nghe đến cuốn sách nào như thế này cả. Trong lòng lấy làm kỳ lạ, gã lại không kìm được tiện tay lật trang đầu tiên ra xem, trang đầu này là lời dẫn, chỉ vẻn vẹn có một câu và cũng được viết bằng chữ Triện cổ. Lạc Văn Giai đọc khẽ: “Con người, không có nanh vuốt của loài lang sói; càng không có sức mạnh của giống hùm beo, nhưng lại có thể bắt sói, trói hùm, săn voi, dạy hổ; không có nguyên nhân nào khác, chỉ bởi có trí tuệ thôi vậy.”

“Đây là thứ gì vậy?” Lạc Văn Giai ngờ vực tự hỏi chính mình, đang định mở sang trang thứ hai thì thấy trang sách đã dính chặt lại với nhau không tách ra được, gã đang định nhìn kỹ xem tại sao, bỗng thấy sau gáy cứng đờ, cổ họng đã bị một bàn tay như vuốt ưng bóp chặt, kế đó trước mắt loé lên một đạo hàn quang, một thanh truỷ thủ đã đưa lên trước mắt, kế đó từ phía sau vang lên một giọng lạnh lùng: “Dám tự ý xem mật điển của bản môn, phải khoét bỏ đôi mắt.”

“Tôi không có!” Lạc Văn Giai run sợ đánh rơi cuốn sách, đến lúc đó mới phát hiện lão già nằm trên ghế đã bước đến sau lưng, đang cầm truỷ thủ đặt lên mắt gã. Gã vội giải thích: “Lão bá tha mạng! Tôi…tôi không biết…”

“Ngươi xem tới đâu rồi?” Lão già quát hỏi.

“Tôi chưa xem được gì, chỉ đọc được câu ở trang đầu tiên thôi!” Lạc Văn Giai vội trả lời.

“Đã đọc rồi, thì phải lấy mắt của ngươi” Lão già nói đoạn, bàn tay bóp mạng, đang định ra tay thì bỗng nghe bên ngoài cửa sổ vẳng lại tiếng cành cây khô gãy, âm thanh đó dường như không lọt được vào tai Lạc Văn Giai, nhưng với lão thì lại như sấm động. Lão thoáng ngẩn người ra, bất ngờ xoay người Lạc Văn Giai lại, đồng thời đảo ngược mũi truỷ thủ, nhét chuôi dao vào tay Lạc Văn Giai, đoạn cầm cổ tay gã kéo thẳng vào ngực mình, mũi dao liền đâm đúng vào chỗ vết thương cũ của lão.

Biến cố xảy ra quá bất ngờ, tới khi Lạc Văn Giai định thần lại, mới phát hiện mình đang cầm truỷ thủ đâm vào ngực lão già nọ, kế đó liền thấy lão từ từ đổ vật ra đằng sau. Lạc Văn Giai tay cầm ngọn truỷ thủ dính đầy máu, sợ đến bần thần cả người ra tại chỗ, miệng không ngừng lắp bắp: “Tôi… tôi không cố ý!”

Cửa sổ bất ngờ mở ra không một tiếng động, hai tên hắc y nhân cầm kiếm tung mình lướt vào. Sau khi nhìn rõ tình hình thư phòng, cả hai đều biến sắc vội đưa kiếm lên thủ thế, nhìn chằm chằm vào Lạc Văn Giai quát hỏi: “Ngươi đã giết lão?”

“Không phải tôi!” Lạc Văn Giai vội vứt mũi truỷ thủ trong tay đi, hoang mang chỉ vào lão già nói: “Là lão…”

Hai tên hắc y nhân nhìn lão già đã tắt thở nằm dưới đất, rồi lại nhìn sang phía Lạc Văn Giai đang luống ca luống cuống, bất giác đưa mắt nhìn nhau ra hiệu, đoạn lạnh lùng hỏi: “Ngươi đã giết lão, vậy thì món đồ kia nhất định đã lọt vào tay ngươi. Giao ra mau, nếu không…!”

“Đồ nào cơ?” Lạc Văn Giai hoang mang hỏi lại.

“Hừ! Quả nhiên không hổ là người của Thiên Môn, đóng giả như thật! Đã vậy thì bọn ta đành mạo phạm vậy!” Một tên hắc y nhân lạnh lùng nói, trường kiếm rung lên, tạo thành vô số đoá kiếm hoa tua tủa, đột nhiên ép về phía Lạc Văn Giai.

Lạc Văn Giai vội cuống cuồng lùi về sau né tránh, nhưng vấp phải cái ghế dài đằng sau, ngã ngửa ra đất, tuy ngã đến bò lăn bò càng, nhưng vừa khéo lại tránh được đoá hoa kiếm đang ập tới trước mặt. Tên hắc y nhân thấy thế thì sinh ngờ vực thu kiếm lại, thầm nghĩ, một kiếm này vốn là hư chiêu, sao có thể một chiêu đắc thủ như vậy được?

“Ở đây!” Tên hắc y còn lại đột nhiên phát hiện ra cuốn sách da dê rơi trên đất, cặp mắt lập tức sáng bừng lên chồm tới, đang định với tay nhặt lên, bỗng thấy bên cạnh có đạo hàn quang loé lên, lưỡi kiếm của tên đồng đảng đã đâm tới. Y không kịp phòng bị nên trúng ngay một kiếm vào mạng sườn, buộc lòng phải ôm vết thương lùi lại mấy bước, chỉ kiếm vào bạn đồng hành phẫn nộ quát: “Ngươi…”

Chỉ thấy tên hắc y thừa cơ đánh lén điềm nhiên cười cười bảo: “Thiên Môn mật điển, người người đều muốn, ngươi chớ nên trách ta.” Nói đoạn đâm thêm một kiếm nữa giết chết đối phương. Sau đó, y quay về phía Lạc Văn Giai, thấy gã vừa lồm cồm đứng dậy, bèn vừa ngấm ngầm giới bị, vừa với tay nhặt quyển sách da dê dưới đất. Đúng lúc đó lão già nằm bất động từ nãy bỗng dưng bật dậy, chặt thẳng một quyền vào yết hầu y. Tên hắc y nhân chỉ chú ý vào Lạc Văn Giai, căn bản không thể ngờ lão già đã chết kia lại sống dậy, lập tức bị chặt trúng yết hầu, chỉ kịp kêu lên một tiếng đau đớn, rồi trợn ngược mắt từ từ đổ vật người ra đất.

Lão già ra tay làm động đến vết thương, máu tươi lại phun ra, chỉ trong chớp mắt đã ướt đẫm cả vạt áo trước ngực.Lão lại nằm liệt dưới đất thở hồng hộc, một lúc sau mới ngoắc ngoắc tay với Lạc Văn Giai bấy giờ vẫn đứng ngây ra như phỗng đá: “Ngươi đến đây!”

“Không!” Lạc Văn Giai sợ hãi lùi lại mấy bước.

“Ngươi yên tâm, ta không hại ngươi đâu.” lão già dịu giọng nói: “Vừa rồi là ngươi…”

“Không phải tôi!” Lạc Văn Giai vội phân trần: “Tôi không hiểu sao mình lại cầm truỷ thủ, lại còn đâm trúng ngực của tiền bối nữa.”

“Không liên quan đến ngươi.” Lão già gắng sức nói: “Nếu không phải lão phu nghĩ ra kế ấy trong lúc nguy cấp, làm sao có thể gạt được hai tên này chứ?”

“Vết thương của ông có nghiêm trọng không?” Lạc Văn Giai vội hỏi lại.

“Bồi thêm một dao vào vết thương cũ, chỉ là mất thêm chút máu, chẳng có gì cả.” Lão già nói đoạn, nhặt cuốn sách da dê lên nhét vào bọc, rồi lại ngoắc tay với Lạc Văn Giai nói: “Vừa rồi ngươi đã cứu ta, ta cũng không làm khó ngươi nữa. Nếu như sau này có cơ hội gặp lại, ta nhất định sẽ báo đáp ơn cứu mạng của ngươi. Nhưng trước tiên ngươi hãy kéo hai cái xác này đi chôn đã.”

Lạc Văn Giai vội xua tay: “Không được, không được, xảy ra án mạng, đương nhiên phải báo quan phủ!”

“Báo quan!” lão già cười lạnh lùng “Lão phu phủi tay xong là đi, quan sai đến ngươi giải thích thế nào về chuyện tối nay?”

“Cứ theo sự thật mà nói!”

“Ai sẽ tin đây?”

Lạc Văn Giai tắc tị, chuyện đêm nay thật quá ly kỳ, nếu không tận mắt chứng kiến, thì quyết chẳng thể nào tin nổi. Nhưng nếu muốn gã mang hai gã hắc y nhân kia đi chôn, coi như chẳng xảy ra chuyện gì, thì gã không thể làm nổi. Trầm ngâm giây lát, Lạc Văn Giai hiên ngang nói: “Quân tử hành sự, chỉ mong không hổ với lòng. Tôi sẽ y theo sự thật mà báo chuyện đêm nay với quan phủ, người ta tin hay không tin cũng không quan trọng.”

“Cổ hủ! Ngu dốt!” Lão già kia không nhịn được lớn tiếng mắng quát: “Người có biết rằng nếu chuyện tối nay mà truyền ra ngoài sẽ mang đến cho ngươi bao nhiêu phiền phức không? Rồi lại mang cho lão phu bao nhiêu phiền phức không?”

Lạc Văn Giai do dự một lúc rồi vẫn lắc đầu: “Dẫu sao cũng là hai mạng người, ta không thể lừa dối lương tâm mình mang họ đi chôn như vậy được.”

“Thư sinh vô dụng! Thư sinh vô dụng a!” Lão già kia luôn miệng than thở, rồi lấy trong gói ra một bình sứ nhỏ, lẩm bẩm nói, “Xem ra đành phải dùng đến thần dược vô giá của lão phu thôi.”

Nói đoạn, lão đổ thuốc bột trong bình sứ vào vết thương trên hai cái xác, chỉ nghe tiếng “xì xì” vang lên, rồi hai cái xác dần biến mất, cuối cùng chỉ còn lại hai bộ đồ màu đen. Lạc Văn Giai thấy vậy thì tròn mắt há hốc miệng ra, nghi hoặc chẳng hay có phải mình đang nằm mơ hay không nữa.

Cuối cùng lão già kia vơ lấy hai bộ quần áo đen và hai thanh kiếm gói lại quay người đi ra cửa, đồng thời ngoảng lại cười lạnh lùng: “Bây giờ không còn một chút dấu vết, ta xem ngươi báo quan như thế nào?”

Lạc Văn Giai nhìn lão lảo đảo đi ra cửa, bất chợt sực nhớ ra đến tên của lão già kia mình còn chưa biết, vội chạy ra khỏi thư phòng hỏi: “Không biết phải xưng hô với lão bá như thế nào?”

“Sao cơ? Ngươi còn muốn báo tên lão phu với quan phủ nữa chăng?” Sắc mặt lão già trầm xuống.

Lạc Văn Giai thở dài than, “Lão trượng hiểu lầm rồi. Sự việc đêm nay đã không còn vật chứng, tôi nói ra lấy ai tin đây? Hôm nay khéo gặp lão bá xem như là có duyên, sau này biết đâu sẽ gặp lại, nên tôi mới không nhịn được mà hỏi đó thôi.”

Lão già kia cười khà khà đáp: “Ngươi thân ở sơn thôn, tâm ở quan trường, còn lão phu thì quanh năm độc lai độc vãng trên chốn giang hồ, từ nay về sau sợ rằng không còn có cơ hội gặp lại. Nhưng thấy ngươi thành khẩn như vậy, lão phu cũng không ngại gì mà nói ngươi biết, lão phu họ Vân, người khác vẫn gọi ta một tiếng Vân gia.”

Vân gia? Lạc Văn Giai thầm nhẩm lại trong lòng, vẫn muốn hỏi thêm nữa, nhưng lão gì đã loạng choạng đi ra khỏi cổng. Nhìn sắc trời, màn đêm cũng vừa buông xuống. Chỉ thấy trăng sau vẫn như thường, xung quanh chỉ ngoài tiếng lũ côn trùng rỉ rả, thì chỉ còn những trận gió nhè nhẹ đem theo chút hơi lành lạnh. Cả hai tên hắc y và lão già tóc bạc đều biến mất tăm mất tích. Lạc Văn Giai đứng dụi mắt cứ ngỡ là mình còn chưa tỉnh mộng.

“Cheng, cheng, cheng!” Phía từ đường bỗng vẳng lại mấy tiếng cồng gấp gáp, âm thanh vang lên trong đêm hết sức bất ngờ. Tiếng cồng đó là hiệu lệnh triệu tập những người trong họ khi có việc gấp, chỉ khi xảy ra những chuyện trọng đại mới dụng đến. Lạc Văn Giai lớn như vậy mà cũng chỉ nghe thấy một lần khi thôn trang có lũ tặc phỉ đến cướp.

“Mẹ, trong tộc có chuyện lớn, con phải đi xem xem!” Lạc Văn Giai vội chạy đến bên cửa phòng mẫu thân báo. Liền nghe mẹ gã trong nhà dặn: “Con đi xem có chuyện gì thì được, nhưng phải nhớ, tất cả phải do các vị trưởng bối làm chủ, con nhất thiết không được tự tiện ra mặt.”

“Con nhớ rồi!” Lạc Văn Giai đáp lời, rồi vội vã chạy về phía từ đường. Tuy Lạc Văn Giai chưa đầy hai mươi tuổi, nhưng mọi người trong tộc đều coi gã là người trưởng thành, chỉ vì gã là tú tài duy nhất trong cả tông tộc, vậy nên, gã cũng được tham gia vào các việc chung trong họ, gã cũng lấy làm tự hào về điều đó.

Vội vội vàng vàng chạy đến từ đường, thì thấy ở đó đã có vài người đợi sẵn, ai nấy đều hết sức bất ngờ trước hiệu lệnh triệu tập của trưởng họ, vừa chào hỏi lẫn nhau vừa đoán già đoán non, nhưng không người nào có đáp án chính xác cả.

Sau khi mọi người trong họ đến gần đông đủ, mới thấy trưởng họ Lạc Tông Hàn cùng hai người con trai sải bước đi đến. Dưới ánh sáng vàng vọt của đèn đuốc, khuôn mặt ông trưởng họ xanh xám, hàm dưới có vẻ run run, trong ánh mắt thấp thoáng một tia lạnh lùng quyết liệt.

“Thúc công, nửa đêm canh ba triệu tập chúng ta đến đây rốt cuộc là có chuyện gì vậy?” Có người lớn tiếng chất vấn.

Lạc Tông Hàn ra hiệu cho mọi người yên lặng, đợi cho tất cả dần lắng xuống, lão mới đảo mắt nhìn quanh nói: “Hôm nay, tam công tử của Nam Cung thế gia ở Dương Châu đã đích thân đến đây, ra giá gấp ba lần muốn chúng ta chuyển đi, nhường lại tất cả đất đai ở Lạc gia trang, mọi người nói xem phải làm như thế nào?”

“Như thế sao được?” có người lập tức cao giọng phản đối, “Lạc gia chúng ta sinh sống ở đây đã mười mấy đời, cả phần mộ của tổ tiên cũng đều được chôn cất tại đây, làm sao có thể dời đi?”

“Đúng đấy!” Chúng nhân đều nhao nhao phụ hoạ, “Trước nay mới chỉ nghe nói người sống chuyển nhà, chứ có bao giờ thấy mồ mả tổ tiên cũng có thể chuyển đi chỗ khác đâu!”

“Không chuyển! Tuyệt đối không chuyển!” Thái độ của mọi người kiên quyết dị thường.

Lạc Tông Hàn đợi mọi người yên lặng một chút, mới lên tiếng: “Hôm nay Nam Cung Phóng đã ra thông điệp cuối cùng với chúng ta, nếu chúng ta không chuyển, bắt đầu từ đêm nay, mỗi ngày Lạc gia trang có một người chết . Ta vốn nghĩ là hắn chỉ hù doạ, ai ngờ tối nay khi trời vừa tối, quả nhiên trong thôn có người chết bất đắc kỳ tử, vây nên mới phải lập tức mời mọi người đến đây để bàn chuyện.” Nói đoạn Lạc Tông Hàn quay người lại vẫy tay ra hiệu nói: “Khiêng ra đây!”

Hai người thanh niên khiêng ra một cái cáng, chỉ thấy trên cáng phủ tấm vải trắng, dưới lớp vải lờ mờ hiện ra một dáng người gầy còm. Đám người trong họ kinh hãi nhìn một người chầm chậm nhấc tấm vải trắng đó lên, lộ ra xác của một lão bà bên dưới. Mọi người nhìn rõ thi thể ấy, tuy trong lòng cũng có chút xót thương, nhưng ai nấy đều ngấm ngầm thở phào một tiếng. Người chết là một lão bà neo đơn ở nơi khác lưu lạc đến Lạc gia trang, tự xưng nhà chồng họ Mai, nên mọi người thường gọi là Mai bà bà. Kỳ thực bà ta vốn không có quan hệ gì lớn đối với Lạc gia trang, mấy năm trước lưu lạc tới đây, chỉ vì người trong thôn tính tình thuần phác, tâm địa lương thiện, thường thường cho bà ta một hai bữa cơm, nên liền ở lại luôn trong một nhôi nhà cỏ bỏ hoang. Chẳng ngờ đêm nay lại vì Lạc gia trang mà gặp nạn diệt thân.

“Ta đã nhờ đại phu kiểm tra xác Mai bà bà,” Lạc Tông Hàn bình tĩnh nói với mọi người: “Nhưng lại không phát hiện ra bất kỳ thương tích nào, cũng không phát hiện ra dấu hiệu trúng độc, chết rất là kỳ quặc, dù có báo quan chỉ e cũng chỉ coi là tuổi già suy kiệt, đến tuổi quy tiên. Có điều, ta không tin lại có chuyện trùng hợp đến vậy, xem chừng Nam Cung Phóng đã ra tay giết một người không liên quan trước để cảnh báo, nếu chúng ta vẫn kiên trì, rất có thể người kế tiếp sẽ là người của Lạc gia đó.”

Chúng nhân đưa mắt nhìn nhau, trong từ đường bỗng nhiên trở nên yên lặng khác thường, chợt một thanh niên giơ tay lên nói: “Nếu đúng là Nam Cung Phóng làm việc đó, chúng ta cũng tuyệt đối không thể lùi bước! Không thể để người khác ngồi lên đầu chúng ta được!”

Tiếng hô ấy đã được đám trẻ tuổi trong họ nhao nhao phụ hoạ. Trong mắt trưởng họ Lạc Tông Hàn ánh lên vẻ bằng lòng, đột nhiên hét lớn: “Mang đao của ta ra đây!”

Hai người con trai lão lập tức khiêng ra một cây cửu hoàn đại đao, Lạc Tông Hàn dùng hai tay nhấc lên, vung vẩy múa mấy đường, chín chiếc vòng thép gắn trên sống đao kêu “keng keng”, thanh thế cũng kinh người, khiến chúng nhân ai nấy đều đồng thanh cổ vũ hô “hay hay”. Lạc Tông Hàn chống cây đại đao xuống, hiên ngang nói: “Từ ngày hôm nay, tất cả đàn ông trưởng thành trong Lạc gia đều phải tự trang bị vũ khí, tổ chức thành đội bảo vệ thôn, thay nhau tuần tra cảnh giới, bảo vệ an toàn cho mọi người. Nếu như Nam Cung Phóng cả gan dám giết người trong thôn, chúng ta sẽ liều mạng cùng hắn!”

Ai nấy đều đồng thanh khen phải. Thời buổi dân phong chuộng võ, trong Lạc gia trang cũng có khá nhiều thanh niên học được vài đường võ nghệ thô thiển, đặc biệt là trưởng họ Lạc Tông Hàn, thời trẻ cũng từng đi làm bảo tiêu mấy năm. Có lão đứng ra, chúng nhân lập tức cảm thấy vững tâm bội phần, máu nóng sôi lên sùng sục.