Thiên Môn Công Tử. Chương2 (2)

Posted on 12/07/2011 bởi

0




Giơ lá phướn ấy đi qua năm dãy phố, sự tự tin ban đầu của Lạc Văn Giai bắt đầu dao động. Tuy trên đường người qua kẻ lại nườm nượp như nêm, nhưng chẳng hề có ai để mắt đến lá phướn có nét chữ ưu việt của gã, lại càng chẳng ai gọi gã viết câu đối hoành phi hay vẽ tranh cả.

 

Trời tối dần, tâm trạng Lạc Văn Giai cũng dần trở nên chán nản, gã cúi đầu uể oải đi nốt qua dãy phố lớn cuối cùng, Lạc Văn Giai tuyệt vọng cuộn lá phướn lại, đang định xé nát ra thành mấy mảnh thì nghe thấy đằng sau vang lên một giọng nói nhẹ nhàng hỏi: “Tiên sinh biết vẽ tranh hả?”

“Biết, đương nhiên là biết!” Lạc Văn Giai vừa trả lời vừa quay đầu lại thì nhìn thấy sau lưng mình có một tiểu cô nương mặc váy áo màu xanh lá cây, khoảng mười bốn mười lăm tuổi, khi cười trên hai má có hai núm đồng tiền trông hết sức khả ái. Lạc Văn Giai vội mở lá phướng ra, nôn nóng giải thích: “Viết chữ, vẽ tranh đều là sở trường của ta, sáu tuổi ta đã bắt đầu luyện chữ, bảy tuổi học vẽ tranh, từ đó đến nay đến nay đã có mười mấy năm chưa hề gián đoạn! Chẳng hay cô nương muốn vẽ gì? Tranh thuỷ mặc hay họa chân dung? Hay là vẽ hoa cỏ ong bướm?”

Tiểu cô nương đó nhoẻn miệng cười, xua xua tay nói: “Không phải ta muốn vẽ, là tiểu thư nhà ta. Hôm nay tiểu thư sai ta đi tìm hoạ sư đến vẽ chân dung, không ngờ vừa ra đến cửa thì gặp ngươi, nên mới hỏi thử xem.”

“Chân dung? Không có vấn đề gì, không có vấn đề gì!” Lạc Văn Giai vội đáp: “Tiểu thư nhà cô ở đâu? Ngay bây giờ ta có thể đi vẽ cho cô ấy!”

“Có làm được không đấy?” Tiểu cô nương kia quan sát Lạc Văn Giai với ánh mắt nửa tin nửa ngờ. Lại nghe gã luống ca luống cuống giai bày: “Tuy ta chưa vẽ chân dung nhiều, nhưng hoạ công hoạ lý cũng không khác gì nhau mấy, cô không tin ta vẽ cô trước xem thử nhé?”

“Được rồi, được rồi!” Tiểu cô nương bực tức xua tay, “Để ngươi vẽ cũng được, nhưng tiểu thư nhà ta có một điều kiện.”

“Điều kiện gì?” Lạc Văn Giai vội hỏi.

“Ngươi phải bịt kín mắt để ta dẫn đi,  trên đường cấm không được nhìn trộm.” Tiểu cô nương đó giải thích, “Ngoài ra, ngươi phải phải thề là không được nói chuyện ngày hôm nay cho ai biết.”

Lạc Văn Giai ngẩn người, đây là lần đầu tiên gã nghe thấy kiểu điều kiện như thế này, nhưng rồi nghĩ lại, thầm đoán có thể đối phương là tiểu thư nhà danh giá, gia giáo nghiêm khắc, không muốn cho nam nhân lạ biết được gia thế hoàn cảnh của mình nên mới dùng đến biện pháp phức tạp này. Nghĩ đến đó gã bất giác gật đầu lia lịa nói: “Không vấn đề, không vấn đề gì, ta xin thề, tuyệt đối không nói ra chuyện ngày hôm nay.”

“Thế thì tốt! Ngươi quay người lại đây!” Tiểu cô nương nói đoạn rồi rút ra một chiếc khăn tay.

“Làm gì vậy?” Lạc Văn Giai hỏi.

“Đồ ngốc! Bịt mắt chứ làm gì!” Tiểu cô nương cười cười mắng.

Lạc Văn Giai ngoan ngoãn quay người để tiểu cô nương kia bịt mắt mình lại, sau đó để cô ta dắt tay quành qua một ngã lẽ, cuối cùng trèo lên một cỗ xe ngựa mềm mại thơm ngát. Trong tiếng giục ngựa của xa phu, cỗ xe từ từ lăn bánh, nhẹ nhàng đi qua đường phố vắng lặng. Lắc lắc lư lư, chẳng rõ đã đi được bao lâu thì dừng lại, rồi Lạc Văn Giai nghe thấy tiểu cô nương ngồi đối diện vui vẻ cất tiếng: “Đến rồi!”

Lạc Văn Giai vẫn đang bịt mắt, được tiểu cô nương kia dẫn xuống xe, sau đó đi theo cô ta qua mấy lần cửa lớn, cuối cùng dừng lại trong một căn phòng ấm áp đầy hương thơm, lúc ấy tiểu cô nương kia mới bảo: “Ngươi có thể bỏ khăn bịt mắt ra được rồi.”

Lạc Văn Giai lấy làm hiếu kỳ tháo chiếc khăn tay xuống, đợi sau khi mắt thích ứng trở lại, gã bất giác tò mò đưa mắt nhìn khắp bốn xung quanh, thì thấy mình đang đứng giữa một gian phòng reo đầy rèm hồng xanh rực rỡ. Tuy chưa vào đông nhưng trong phòng đã đốt lò sưởi hừng hực, khiến bầu không khí ấm áp như tiết mùa xuân. Trên chiếc ghế mềm cách Lạc Văn Giai độ mươi bước có một mỹ nhân yêu kiều đang nằm ngủ một cách tự nhiên. Chỉ thấy nàng ta mặc áo hồng ngoài khoác áo xanh, nét mặt sạng rỡ như hoa đào, mắt phượng đẹp mê hồn người, dung mạo diễm lệ đến kinh người. Đặc biệt là vạt áo trước ngực khẽ hé mở, khe ngực sâu hun hút khảm giữa một vùng trắng muốt như ngọc, sáng bừng lên đến độ người ta không sao mở mắt. Lạc Văn Giai vừa nhìn thấy bất giác cúi đầu đỏ mặt, không còn nhìn ngó khắp nơi nữa.

“Tiểu Thuý, đây chính là hoạ sư em tìm về đó hả?” Mỹ nhân vừa xem xét Lạc Văn Giai, vừa uể oải hỏi. Tiểu cô nương vừa đưa Lạc Văn Giai đến vội đáp: “Tiểu thư đừng thấy y còn trẻ, mà lầm, người ta đã học vẽ tranh từ năm bảy tuổi, mười mấy năm qua chưa từng gián đoạn đó.”

“Thật à?” Mỹ nhân hờ hững buông ra một tiếng, từ từ điều chỉnh lại tư thế, điềm đạm bảo, “Vậy thì để y thử đi.”

“Còn đứng đực ra đó làm gì? Mau vẽ đi!” Tiểu Thuý thấy Lạc Văn Giai vẫn đứng trơ ra đó không biết làm gì, liền thúc giục. Gã vội vàng lấy giấy bút vừa mua được ra, trải giấy lên thư án đã chuẩn bị từ trước, mài mực chỉnh bút chuẩn bị bắt đầu vẽ.

“Phải xưng hô với công tử như thế nào?” Nhân lúc Lạc Văn Giai chưa bắt đầu vẽ, người đẹp ngồi trên ghế mềm bỗng nhiên hỏi.

“Tại hạ à? Lạc Văn Giai! Chẳng hay phương danh của tiểu thư…?” Lạc Văn Giai thuận miệng hỏi, vừa nói dứt câu đã cảm thấy có chút gì đó hối hận, người ta đã làm vậy, chắc chắn là không tiện trả lời rồi, gã hỏi như vậy, quả thực là hơi quá mạo muội.

“Thiếp thân tiểu danh là Y Hồng.” Mỹ nhân khẽ cười, “Công tử đã chuẩn bị bút nghiên xong chưa? Sao còn chưa bắt đầu vẽ?”

Lạc Văn Giai đỏ mặt, vội trải giấy Tuyên ra, bất tắc dĩ lại ngẩn mặt lên nhìn kỹ dung mạo của người đẹp, rồi đưa bút lên bắt đầu vẽ. Không khí trong phòng nhất thời chìm vào tĩnh lặng, chỉ còn nghe thấy tiếng bút lông sói đi trên mặt giấy Tuyên kêu “lạo xạo” và tiếng củi gỗ thỉnh thoảng lại nổ tí tách trong lò. Trong không gian tràn ngập mùi hương thơm ấm áp, Lạc Văn Giai nghe tim mình đập “thình thịch” trong lồng ngực, nếu không phải vẽ tranh, gã thực không dám nhìn thẳng vào cặp mắt như muốn câu hồn nhiếp phách người ta ấy của Y Hồng.

Không biết mất bao nhiêu thời gian, cuối cùng Lạc Văn Giai cũng thở phào nhẹ nhõm, buông bút vươn vai, đứng dậy. Tiểu Thuý đứng lặng im bền cạnh từ nãy vội chạy đến xem, lập tức reo lên một tiếng: “Oa! Vẽ đẹp quá! Quả nhiên là không nói phét!”

Y Hồng cũng hết lời tán thưởng bức hoạ Lạc Văn Giai vừa vẽ, có điều trong mắt Lạc Văn Giai, đây vẫn không phải là bức hoạ đẹp nhất của gã, vì ánh mắt đa tình ấy của Y Hồng khiến gã không dám nhìn kỹ, càng không thể diễn tả được hết được vẻ đẹp của nàng ta. Thế nên đối với Lạc Văn Giai, đây chỉ là bức vẽ chân dung giống người mà thôi.

“Tiểu Thuý! Còn không mau mau hậu tạ Lạc công tử!” Y Hồng vừa cất tiếng gọi, Tiểu Thuý lập tức mang từ phòng trong ra một túi gấm đặt vào tay Lạc Văn Giai. Thấy chiếc túi gấm nằng nặng, Lạc Văn Giai định mở ra xem, thì liền bị Y Hồng cầm tay ngăn lại nói: “Lạc công tử, công tử phải đi khỏi đây mới có thể mở chiếc túi gấm này.”

Lạc Văn Giai lúng ta lúng túng gật đầu, bàn tay Y Hồng mềm mại ấm áp, khiến gã có cảm tưởng tim mình đập nhanh hơn. Gã định rút tay lại nhưng bàn tay lại không nghe theo sự điều khiển, dường như nó đã hoàn toàn không thuộc về gã, mà cứ cứng đờ ra ở đó. Một làn gió thơm thổi qua, lại thấy Y Hồng đột nhiên cúi người xuống, ghé miệng bên tai mình thì thầm nói: “Đồ ngốc! Thiếp thật sự có chút không nỡ để công tử đi đó!”

Lạc Văn Giai hoảng hốt lùi lại, đang định nói gì đó thì thấy Y Hồng tủm tỉm cười, quay lại dặn dò với Tiểu Thuý: “Tiễn Lạc công tử cho ta!”

Thoáng chốc sau đó, Lạc Văn Giai lại bị bịt mắt, được Tiểu Thuý đưa trở lại đầu phố lúc nãy. Lúc đó trời đã tối hẳn, xung quanh bốn bên đều không thấy một bóng người, Lạc Văn Giai đưa tay dụi dụi mắt, nghĩ lại tất cả những chuyện vừa xảy ra, cứ ngỡ như mình đang nằm mơ. May mà túi gấm trong tay vẫn còn nguyên, mà cầm lên cũng thấy khá nặng. Lạc Văn Giai vội mở ra, mượn ánh trăng xem thử,  thì thấy trong túi gấm lấp lánh ánh vàng, thì ra toàn là vàng lá.

“Thế này… thế này thì quý quá!” Lần đầu tiên Lạc Văn Giai thấy nhiều vàng lá như vậy, ngược lại còn sợ đến mức tay run rẩy, trong lòng cảm thấy có gì đó bất an, nhưng lại không biết đi đâu mà mang trả lại số vàng đó.

“Ta tạm thời cất đi đã, sớm ngày mai đi tìm, hy vọng còn nhớ được đường đi, đem trả lại cho Y Hồng cô nương.” Lạc Văn Giai tự thuyết phục mình, tuy gã rất tự tin với khả năng vẽ tranh của mình, nhưng cũng biết nó không thể đáng giá nhiều tiền như vậy.

Tìm một khách sạn có giá thấp, Lạc Văn Giai dùng chút bạc vụn còn lạ của mình thuê phòng. Vừa lên giường nằm chưa được bao lâu, thì đột nhiên nghe láng máng trong khách sạn có tiếng ồn ào hỗn loạn, rồi có người gọi cửa kêu lớn: “Dậy, dậy! Dậy hết! Kiểm tra đêm!”

Lạc Văn Giai mơ màng tung chăn dậy, mở cửa ra ngoài hỏi mấy người khách trọ khác đang ở bên ngoài: “Có chuyện gì thế?”

Một vị khách ở phòng bên đáp: “Nghe nói trong thành xảy ra một vụ án lớn, nha môn tri phủ đang lệnh cho đám bổ khoái kiểm tra các quán trọ ở khu vực này. Nhìn bộ dạng này, không chừng là vợ của tri phủ đại nhân bị đại đạo hái hoa cưỡng gian rồi.”

Mấy người khách trọ đứng bên cạnh cười phá lên, đúng lúc mấy bổ khoái đi đến. Một tên bổ đầu tướng mạo hung ác chỉ chiếc roi ngựa trong tay về phía khách trọ quát: “Tất cả đứng sát vào tường để kiểm tra, không chấp hành xem như là trộm cướp!”

Bị ngọn doi uy hiếp, chúng nhân đành ngoan ngoãn đứng dựa sát vào tường. Mấy tên bổ khoái chia nhau kiểm tra, hai tên sát người, còn lại vào các phòng trọ lục tủ bới giường tìm kiếm gì đó. Một lúc sau, một tên bổ khoái đột nhiên cầm ra một chiếc túi gấm, hưng phấn cao giọng hỏi: “Cái này của ai?”

Lúc đó trong lòng Lạc Văn Giai có dự cảm bất tường, nhưng vẫn thành thực đáp: “Của ta.”

“Hảo tiểu tử! Cuối cùng cũng tóm được ngươi rồi! Đi với bọn ta!” Một tên bổ đầu bất ngờ rút ra một đoạn dây xích sắt trói vào cổ Lạc Văn Giai lôi gã đi. Lạc Văn Giai cố sức vùng vẫy phân giải, nhưng nào phải là đối thủ của mấy bổ khoái như hổ như sói kia, trong chớp mắt gã đã bị bọn bổ khoái lôi ra ngoài. Đến khi cả bọn đi xa rồi mà mấy người khách trọ vẫn chưa có phản ứng gì, bất giác ngơ ngác hỏi nhau: “Chuyện gì thế nhỉ? Gã thư sinh đó rốt cuộc là đã phạm tội gì?”

“Thăng… đường…”

Tiếng “uy vũ” trầm trầm vang lên trong công đường, lọt vào tai Lạc Văn Giai, cảm giác hoàn toàn khác với lần trước. Chỉ thấy tri phủ Phí Sĩ Thanh được đám nha dịch và sư gia tiền hô hậu ủng chầm chậm bước ra, ung dung ngồi xuống, bất ngờ vỗ án đánh “chát” một tiếng, gằn giọng quát hỏi: “Tội phạm Lạc Văn Giai, ngươi đã biết tội chưa?”

Lạc Văn Giai tuy bị xiềng xích nhưng vẫn hiên ngang ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào Phí Sĩ Thanh hỏi lại: “Không biết học trò đã phạm tội gì?”

Phí Sĩ Thanh nhấc chiếc túi gấm trên bàn xử án lên lạnh lùng hỏi: “Cái túi gấm này và vàng lá trong đó có phải là của ngươi?”

Lạc Văn Giai do dự một lát rồi đáp: “Đó là của một cô nương trả công học trò vẽ chân dung cho nàng ấy.”

“Hỗn láo! Ngươi tưởng rằng bản quan không hiểu thư hoạ sao?” Phí Sĩ Thanh vỗ bàn cười gằn nói, “Ngươi nghĩ mình là Đường Bá Hổ hay là Mạnh Hạo Nhiên? Tuỳ tiện vẽ một bức hoạ có thể bán được từng ấy vàng lá hay sao?”

“Học trò cũng biết bức hoạ mình vẽ không đáng giá nhiều tiền như thế,” Lạc Văn Giai biện bạch, “Nên đang định sáng sớm ngày mai đem đi trả lại cô nương ấy.”

“Cô nương ấy tên là gì? Nhà ở đâu?” Phí Sĩ Thanh đột nhiên quát hỏi.

Lạc Văn Giai thần người, chợt nghĩ đến lời thề lúc đầu với Tiểu Thuý, lưỡng lự một lúc, gã đành thành thực trả lời: “Học trò không thể nói. Học trò đã từng đáp ứng với cô nương đó rằng sẽ không nói tên nàng ấy với người khác, hơn nữa tôi cũng không biết chỗ nàng ấy ở đâu.”

“Hắc hắc! Càng thêu dệt càng lung tung!” Phí Sĩ Thanh liên tiếp cười gằn, “Ngươi đã không nói được họ tên nàng ta, lại không biết nàng ta ở đâu, làm sao vẽ tranh được? Một bức tranh làm sao có thể đáng giá từng ấy vàng lá chứ? Xem ra ngươi chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ. Người đâu! Đại hình chờ lệnh!”

Bọn nha dịch ở hai bên nhất tề hô ứng, lao đến như lang như hổ, túm lấy cánh tay Lạc Văn Giai rồi vật ngửa ra đất. Chợt nghe Lạc Văn Giai kêu lớn: “Ngừng tay! Các ngươi ai dám dùng đại hình?”

Khí thế của Lạc Văn Giai đã trấn áp mấy tên nha dịch, cả đám bất giác ngừng tay lại, đưa mắt nhìn tri phủ đại nhân. Lại thấy Phí Sĩ Thanh cười lạnh lùng đáp: “Chứng cứ rành rành, ngươi lại không khai nhận, tại sao không thể dùng đại hình?”

“Chứng cứ ở đâu?” Lạc Văn Giai chất vấn lại.

“Ngươi không nói được nguồn gốc của cái túi gấm vàng lá này, đó chính là chứng cứ!” Phí Sĩ Thanh đáp.

“Cho dù có như thế, ông cũng không thể dùng đại hình với ta!” Lạc Văn Giai muốn giữ lời hứa, không thể nói ra tên họ của vị tiểu thư đã tặng vàng kia, đành hy vọng có thể nhờ người tìm ra vị tiểu thư đó, để nàng ta hoặc Tiểu Thuý đứng ra làm chứng cho mình. Nhưng lúc này, gã cũng chỉ có thể tạm thời hàm oan, cũng may gã vẫn có một lá bài hộ thân cuối cùng. Lạc Văn Giai hiên ngang đáp: “Ta đây có công danh, theo Đại Minh luật lệnh, ngài không thể dùng hình cụ với ta.”

Phí Sĩ Thanh cười lạnh lùng: “Không ngờ ngươi còn tinh thông luật pháp Đại Minh, giỏi lắm, bản quan sẽ y theo luật pháp Đại Minh, tạm thời giam ngươi vào ngục. Sớm ngày mai bản quan sẽ gửi thư cho Ty Học Chính tước công danh của nhà ngươi, rồi sẽ khiến ngươi cúi đầu nhận tội! Bãi đường!”

Đám nha dịch nhất tề hô vang một tiếng rồi chẳng nói chẳng rằng cứ thế gông Lạc Văn Giai lôi đi. Đợi đến khi đám nha dịch đi hết, sau bức bình phong liền có có hai thanh niên chậm dãi bước ra, một là Nam Cung Phóng ôn nhu văn nhã, người còn lại là Đường Tiếu mặt mày âm hiểm. Phí Sĩ Thanh vội chắp tay bái chào: “Xin tam công tử và Đường công tử yên tâm, đợi sau khi tước đi công danh của tên tiểu tử đó, bản quan sẽ có thể lập tức hỏi tội hắn.”

Nam Cung Phóng nở một nụ cười đầy ngụ ý: “Đại nhân nhất định phải chấp pháp theo phép công, nhất định không được để cho tội phạm nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật đó!”

“Nhất định, nhất định! Tam công tử xin cứ yên tâm!” Phí Sĩ Thanh vội luống cuống đáp ứng rồi cùng sư gia cung kính tiễn Nam Cung Phóng và Đường Tiếu ra cửa. Mấy người chắp tay chào nhau xong xuôi, Đường Tiếu mới không nhịn nổi lầm bầm cằn nhằn: “Ta không hiểu, đối phó với một tên tú tài nghèo rớt mùng tơi, không thanh không thế, tại sao công tử phải làm phiền phức như vậy, cứ cho nó một nhát thì không xong sao? Thành Dương Châu lớn như vậy cho dù có bỗng nhiên mất đi một thằng học trò nghèo sợ rằng cũng chẳng ai chú ý đến.”

Nam Cung Phóng cười khoan thai đáp: “Muốn cho hắn tự nhiên biến mất thì rất dễ, nhưng hắn là niềm hy vọng và kiêu hãnh của Lạc gia trang, công tử nói xem nếu như hắn dính vào chuyện kiện cáo, Lạc Tông Hàn liệu có dốc toàn lực cứu nó không?”

“Đó là điều hiển nhiên.” Đường Tiếu đáp.

“Cứu người thì có cần dùng tiền không?” Nam Cung Phóng lại hỏi.

Đường Tiếu sực hiểu ra, gật đầu lia lịa đáp: “Hiểu rồi, hiểu rồi. So với người sống thì phần mộ của tổ tiên cũng không quan trọng nữa rồi. Lạc Tông Hàn nếu muốn cứu tên tú tài kia thì chỉ còn cách bán đi gia nghiệp của tổ tiên mà thôi. Chiêu này của tam công tử thật hơi giống đám phỉ đồ, bắt con tin rồi đòi tiền chuộc người nhà, lại mượn bàn tay đường đường chính chính của quan phủ. Kế này của tam công tử thật âm hiểm, âm hiểm! Bái phục, bái phục!”

Nam Cung Phóng cười nhạt: “Lạc Tông Hàn thế nào cũng không chịu hợp tác, lẽ nào chúng ta có thể giết hết người trong Lạc giai trang? Lạc gia trang có chết một hai người thì không thành vấn đề gì, nhưng nếu chết nhiều thêm nữa thì đám hiếu sự trong võ lâm tự nhiên sẽ liên tưởng đến Nam Cung thế gia, về sau chúng ta làm sao có thể đứng vững trên giang hồ đây? Nam Cung thế gia dẫu sao cũng là danh gia vọng tộc hang trăm năm nay, lễ nghĩa truyền gia chứ không phải là phường hào cường cướp bóc. Hôm nay dê béo đả tự tìm đến tận cửa, chúng ta nếu không lợi dụng, há chẳng phải là có lỗi với lòng nhiệt tình của họ sao?”

Hai người nhìn nhau cười lớn, khiến cho chó hoang ở đâu đó cũng sủa lên hưởng ứng. Tiếng cười tắt dần, hai người nhảy lên ngựa, chầm chậm đi sánh vai. Đi chưa được bao xa, bỗng nhiên Đường Tiếu hỏi nhỏ: “Tam công tử, công tử có nghe giang hồ đồn đại chuyện Thiên Môn mật điển đã tái xuất giang hồ hay không, tương truyền, ai có được nó ắt có thể mưu thiên hạ.”

Nam Cung Phóng cười gằn đáp: “Hừm! Ba cái truyền thuyết hoang đường đó tuyệt đối không đáng tin.”

“Cũng phải.” Đường Tiếu hùa theo mà trong lòng thì không nghĩ vậy, “Thiên Môn mật điển, xưa nay chỉ là truyền thuyết trong giang hồ, từ trước tới giờ chưa có ai tận mắt nhìn thấy. Có lẽ trên đời này căn bản không có thứ gì thần kỳ như thế đâu.”

Hai người vừa đi vừa nói chuyện, dần biến mất trong màn đêm. Trên trời, một đám mây đen che mất vầng trăng vốn đã ảm đạm mông lung, khiến thế giới càng lúc càng trở nên hỗn độn u ám.