Thiên Môn Công Tử. Chương3 (2)

Posted on 17/07/2011 bởi

0




III. Hàm Oan

Trong ngục tối chẳng biết ngày đêm, Lạc Văn Giai chỉ có thể dựa vào số lần người ta mang cơm đến để tính ngày tháng. Đã hơn mười ngày trôi qua, từ lần thụ hình trước đến nay gã vẫn chưa bị gọi lên thẩm vấn lần nào, mẹ và Di nhi cũng chẳng đến thăm, dường như gã đã bị người đời hoàn toàn quên lãng, ngoài hai tên ngục tốt thay phiên nhau đưa cơm thì gã chẳng gặp bất cứ một ai. Mà cả hai người sống hiếm hoi ấy, cũng chẳng buồn để ý đến những lời chất vấn hỏi han hay chửi bới ầm ĩ của Lạc Văn Giai, tựa hồ như coi gã là con dê sắp bị mổ thịt rồi vậy, tình cảnh ấy khiến Lạc Văn Giai cơ hồ muốn phát điên lên. Lúc này, gã thà bị người ta tra tấn, còn hơn là bị lãng quên thế này.

Những vết thương trên người đã liền miệng, Lạc Văn Giai đã có thể gắng gượng ngồi dậy. Một hôm, gã đang đếm số vạch khắc tính ngày tháng trên bức tường đá để giết thời gian, thì chợt nghe tiếng cửa ngục mở lách cách, một tên ngục tốt cầm đèn lồng bước vào. Lạc Văn Giai phấn chấn tinh thần, giờ vẫn chưa phải lúc đưa cơm, hơn nữa gã còn nghe ra được, ngoài tiếng bước chân của ngục tốt còn có tiếng bước chân của một người gã chưa từng nghe thấy, trong lòng gã bất giác nảy ra một tia hy vọng mới.

Một lão già thấp lùn lọm khọm xuất hiện trước mặt Lạc Văn Giai, tên ngục tốt được lão ngầm ra hiệu, tự động lui đi. Lão đứng ngoài cửa nhìn Lạc Văn Giai, Lạc Văn Giai quan sát lại đối phương với ánh mắt đầy cảnh giác. Vừa nhìn thoáng qua, Lạc Văn Giai nhận ra lão già gầy guộc đó chính là lão sư gia gã không biết tên đứng bên cạnh Phí tri phủ.

“Lạc tú tài, cậu chịu khổ rồi.” Lão ngồi khoanh chân trước cửa ngục, dịu giọng nói với Lạc Văn Giai qua chấn song ngục: “Nếu cậu sớm ngày nhận tội, thì đâu cần phải chịu dày vò thế này?”

“Ta đây một thân thanh bạch, phải nhận tội gì cơ chứ?” Lạc Văn Giai cười gằn đáp, “Ta đã tính toán ngày tháng, tính từ hôm ta bị bắt giam đến hôm nay đã là ngày thứ mười hai. Theo Đại Minh Luật Lệnh, nội trong mười lăm ngày mà không thể định tội thì phải phóng thích. Cho dù các ngươi có tra tấn tàn khốc, ta cũng liều cái mạng này đấu với tên cẩu quan đó đến cùng, ta phải lên tỉnh cáo giác hắn và Nam Cung Phóng lạm dụng tư hình, hãm hại người vô tội.”

Lão sư gia kia thở dài lắc đầu lia lịa, nói với vẻ tiếc nuối: “Lạc công tử, tính tình này của cậu sớm muộn gì cũng hại cậu mất mạng thôi. Giờ cậu đang ở dưới mái hiên thấp, mà vẫn không chịu cúi đầu sao? Dù cậu nhịn được nỗi đau da thịt, gắng chịu qua mười lăm ngày, song nếu án tình lớn, tri phủ đại nhân có thể báo Ty đề hình kéo dài thời gian thả phạm nhân lại.”

Lạc Văn Giai ngẩn người, tự biết lời lão sư gia kia nói không sai, nhưng gã cũng không muốn thể hiện sự yếu đuối ra ngoài, vẫn giả bộ kiên cường đáp: “Sao lại như thế được? Nhiều nhất thì cũng chỉ giữ được ta thêm nửa tháng, cho dù án lớn đến mấy cũng chỉ được kéo dài thời gian thêm một lần. Tên cẩu quan kia không thể giam giữ ta vĩnh viễn được, lại càng không dám khiến ta chết trên công đường được, bằng không cái mũ ô sa của lão sợ rằng cũng gặp nguy đó.”

Lão sư gia khẽ thở than: “Lạc công tử, công tử hà tất phải khổ sở dùng tính mạng của mình ra đấu với Phí đại nhân chứ? Ta thấy công tử vẫn nên khai nhận đi. Kỳ thực vụ án của cậu không hề nghiêm trọng, chỉ là cướp của mà thôi, tuy số tài vật không nhỏ, nhưng may mà đã tìm lại toàn bộ, cậu phạm tội lần đầu và nếu thừa nhận thì cũng không bị phán trọng tội. May mắn thì bỏ ít tiền ra là không sao, không may thì nhiều nhất cũng chỉ bị khổ sai mấy tháng thôi. Ta và công tử đều là người đọc sách, thực sự ta không nỡ thấy cậu vì quật cường mà chịu khổ, nên mới đến bày cho cậu một con đường sống.”

Lạc Văn Giai cười lạnh lùng, gương mặt lộ rõ vẻ khinh thường: “Ông  tốt bụng như thế sao?”

Lão sư gia lấy trong ngực áo ra một viên đá vũ hoa lấp lánh, nói nhỏ: “Công tử không tin ta, lẽ nào cũng không tin vật này?”

Lạc Văn Giai vừa nhìn thấy viên đá đã biến sắc, vội cầm lên đặt vào lòng bàn tay, lật đi lật lại xem kỹ lưỡng, rồi ngẩng đầu lên khẩn thiết hỏi: “Đây là lễ vật ta tặng Di nhi, tại sao lại ở trong tay lão? Sao nàng và mẹ ta mãi vẫn không đến thăm ta?”

Lão sư gia làm ra vẻ thông cảm nói: “Vì chuện này, mẫu thân cậu đã đổ bệnh nằm liệt giường. Triệu cô nương một mặt chạy khắp nơi tìm người cầu cứu, một mặt lại phải chăm sóc cho mẹ cậu, thì còn đâu thời gian đến thăm cậu chứ? Cô nương ấy cũng đã tìm đến cầu xin ta, lão khiếu đây thông cảm cậu cũng là người đọc sách nên mới nhận giúp nàng, đây chính là tín vật Triệu cô nương đưa cho ta.”

“Bệnh tình mẹ ta thế nào?” Lạc Văn Giai nôn nóng hỏi. Lại thấy lão sư gia thở dài đáp: “Lạc phu nhân chạy khắp nơi cầu cứu không được, u uất công tâm, sinh bệnh nặng nằm liệt giường, nhiều lần hôn mê bất tỉnh. Nếu như không nhìn thấy cậu trở về, sợ rằng…” Nói tới đây, lão không kìm được lắc đầu mấy cái, khuôn mặt đầy vẻ tiếc nuối bi thương.

“Mẹ!” Lạc Văn Giai ngửa mặt khóc lớn, “Con trai bất hiếu, hại mẹ phải chịu khổ rồi!”

Một lúc sau Lạc Văn Giai mới lau nước mắt, rầu rĩ hỏi: “Đa tạ tiên sinh đã đưa tin, vẫn chưa được biết đại danh của tiên sinh?”

“Lão khiếu là Ân Tế.” Lão sư gia đáp.

“Thì ra là Ân sư gia!” Lạc Văn Giai vội chắp tay bái chào, “Nếu như ta lập tức thừa nhận, có phải là sẽ nhanh chóng được thả không?”

“Cậu cũng tinh thông luật pháp Đại Minh, nếu như đem toàn bộ tài sản đã cướp trả lại, lại chủ động nhận tội, cuối cùng sẽ phán định thế nào, chắc hẳn cậu cũng rõ rồi, vì vậy Triệu cô nương mới nhờ vả lão khiếu chỉ điểm cho cậu con đường sáng này.” Ân sư gia nói đoạn liền lấy trong người ra một tờ giấy cung, nhìn xung quanh không thấy ai, mới đưa cho Lạc Văn Giai, “Lão khiếu đã viết sẵn bản cáo trạng và giảm hình phạt xuống mức nhẹ nhất rồi. Ta cũng chỉ có thể giúp được đến đó mà thôi. Công tử xem trước đi, nếu cảm thấy còn chấp nhận được thì ký tên điểm chỉ trên công đường. Bằng không lão khiếu chỉ còn biết về nói với Triệu cô nương và Lạc phu nhân rằng mình vô năng vô lực, không giúp được bọn họ mà thôi.”

“Mẹ và Di nhi cũng muốn ta nhận tội?” Lạc Văn Giai đọc lướt qua bản cáo trạng, không kìm được chua chát hỏi. Ân sư gia thấy vậy liền đập đập lên tay gã qua lớp chấn song an ủi: “Cậu không cần phải quá nặng nề, Lạc phu nhân và Triều cô nương đều biết cậu trong sạch, lão khiếu cũng tin cậu trong sạch nên mới tận lực giúp đỡ cậu.”

Lạc Văn Giai cúi đầu trầm mặc một lúc rồi đột nhiên nghiến răng ngẩng đầu lên nói lớn: “Ta nhận! Báo với Phí đại nhân, ta muốn nhận tội!”

Trong tiếng hô “uy vũ” của hai hàng nha dịch, công đường trở lên nghiêm trang, Phí Sĩ Thanh cúi nhìn Lạc Văn Giai đang quỳ dưới công đường, nghiêm giọng quát lớn: “Phạm nhân Lạc Văn Giai, ngươi có muốn nhận tội không?”

Lạc Văn Giai ấm ức cúi đầu, nói lí nhí: “Tôi nhận.”

“Nói to lên, ta nghe không rõ!” Phí Sĩ Thanh thong thả nói.

“Tôi nhận tội!” Lạc Văn Giai nghiến răng toé máu, ấm ức quá khiến nước mắt không kìm được tự trào ra. Phí Sĩ Thanh thấy vậy không khỏi bật cười, đắc ý chửi mắng: “Đã vào tay bản quan, có tố cáo ngươi sát hại thân phụ, cưỡng hiếp mẹ đẻ thì cũng phải nhận tội! Hừ! Dù ngươi có nhận tội, nhưng vẫn không thể thoát được trận đòn kết án này đâu. Người đâu, trước tiên đánh cho bản quan hai mươi roi, rồi cho hắn ký tên điểm chỉ vào cáo trạng!”

Mấy tên nha dịch lập tức ấn Lạc Văn Giai nằm phục xuống đất, tay vun lên, roi vung xuống, làm cho Lạc Văn Giai đau đến chết đi sống lại. Cho đến khi chịu xong hai mươi roi phạt kết án thì gã đã nửa tỉnh nửa hôn mê, hai mắt mông lung. Lúc đó Ân sư gia đến trước mặt Lạc Văn Giai, cúi xuống dịu giọng nói: “Ký đi, ký tên điểm chỉ xong thì không có chuyện gì nữa rồi.”

Lạc Văn Giai run rẩy đưa tay cầm cái bút lông sói Ân sư gia đưa cho, muốn xem kỹ lại bản cáo trạng, nhưng hai mắt sớm đã bị nước mắt và mồ hôi làm nhoè đi, lại bị lão thúc giục đành ký tên mình vào chỗ đối phương chỉ tay. Sau đó liền thấy Ân sư gia cầm bản cáo tạng đi tới trước bàn án, dâng lên cho tri phủ.

Phí tri phủ xem qua bản cáo trạng, rồi đưa nó giao lại cho Ân sư gia, đắc ý ra lệnh: “Tuyên đọc!”

Ân sư gia đón lấy tờ cáo trạng, cao giọng bình tĩnh đọc lên: “Phạm nhân Lạc Văn Giai, đêm ngày hai mươi bảy tháng chín năm Giáp Thân, nhận lời vẽ tranh  cho kỹ nữ Y Hồng. Bởi thấy nữ nhân này sắc đẹp tuyệt trần, lại tích luỹ được nhiều tiền vàng, phạm nhân đã nổi lòng tham, lập kế lừa gạt bất thành, đã cướp lấy tài vật, đồng thời tiền dâm hậu sát rồi bỏ trốn. Thủ đoạn  tàn ác, tài sản cướp đi quá lớn, tội này lẽ trời khó dung…”

“Lão lừa ta!” Lạc Văn Giai cuối cùng cũng hiểu ra mình lại lần nữa rơi vào cạm bẫy của người khác, bất giác giận dữ trợn ngược mắt, ra sức bổ nhào về phía lão Ân sư gia, nhưng bị mấy tên nha dịch ghì chặt tại chỗ, không thể nào vùng ra được. Chỉ nghe thấy tiếng Ân sư gia tiếp tục đều đều cất lên: “… Vì phạm nhân hung ác tột cùng, tình tiết phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nay báo lên Hình bộ, xử trảm lập quyết!”

“Oan uổng quá!” Lạc Văn Giai nghe thấy ba chữ “trảm lập quyết”, không thể kìm được hét lên một tiếng, rồi ngất đi ngay lập tức.

Nghe tin Lạc Văn Giai nhận tội, đang báo lên Hình bộ xin phán cho  “trảm lập quyết”, Lạc phu nhân đau đớn vô cùng, ngã bệnh nằm liệt giường. Triệu Phú Quý cũng vì thế mà cấm con gái không được qua lại nhà họ Lạc nữa. Nhưng Triệu Hân Di làm sao quên được người trong lòng, lúc đó Lạc gia trang cũng đã thuộc về nhà Nam Cung, Triệu Phú Quý cũng đã bán hết ruộng vườn cho Nam Cung Phóng, đang chuẩn bị rời nhà đến Dương Châu. Triệu Hân Di nhân lúc chuyển nhà hỗn loạn, lặng lẽ trốn ra, đi suốt đêm đến Dương Châu, trong lúc không có nơi nào nhờ cậy đành phải nuôi chút hy vọng mong manh cuối cùng một mình đến tìm Nam Cung Phóng.

“Triệu cô nương!” Nam Cung Phóng mặt ngoài ra vẻ hổ thẹn, trong lòng lại vui như mở cờ, không ngừng xua tay tự trách, “tại hạ thật vô dụng, cũng không ngờ Lạc tú tài lại chủ động nhận tội nhanh như vậy, hiếp dâm, giết người, lừa gạt, tội gì cũng nhận cả rồi. Quan phủ cũng tìm thấy vật chứng ở hiện trường vụ án rồi, đó chính là bức chân dung Lạc tú tài vẽ cho người bị hại. Vụ án này đã được thiết định như sơn, muốn lật lại, thực sự là khó như lên trời vậy.”

“Nam Cung công tử!” Triệu Hân Di nức nở quỳ xuống, khóc lạy rằng: “Cầu xin ngài nghĩ cách, chỉ cần cứu được Văn Giai ca, tôi xin được làm trâu làm  ngựa báo đáp đại ân của công tử!”

“Triệu cô nương làm gì vậy? Mau mau đứng dậy!” Nam Cung Phóng một mực đòi đỡ Triệu Hân Di đứng dậy, tỏ vẻ khó xử lắc đầu nói, “Chà! Khó! Khó lắm!”

Thấy ngay cả Nam Cung công tử danh chấn Dương Châu cũng không có cách gì, Triệu Hân Di lập tức lệ tuôn như suối, đau thương tột cùng, không sao nén nổi khẽ kêu lên một tiếng: “Văn Giai ca!”

Nam Cung Phóng âu yếm rút khăn tay ra nhẹ nhàng lau đi những hạt lệ châu trên gương mặt Triệu Hân Di, vừa lau vừa dịu dàng an ủi: “Triệu cô nương đừng như vậy, nàng như vậy, trong lòng tại hạ cũng lấy làm khó chịu.”

Đau thương đã khiến cảm giác của Triệu Hân Di cũng trở nên trì độn, Nam Cung Phóng nhẹ nhàng ôm nàng vào lòng mà nàng cũng không biết nữa. Khi y nâng cằm lên định hôn lên bờ môi thơm nồng, nàng mới bừng tỉnh kinh hãi, cuống quýt thoát ra như một con nai nhỏ, ôm chặt lồng ngực theo bản năng, lo lắng nhìn Nam Cung Phóng.

“Ta xin lỗi!” Nam Cung Phóng lộ vẻ xấu hổ, luôn miệng tự trách, “Ta! Ta thật không nên làm như vậy, nhưng thân thể như đã không phải của mình… nàng có biết chăng, từ lần may mắn gặp nàng ở Lạc gia trang, dung mạo, giọng nói của nàng đã nhiều lần xuất hiện trong giấc mơ của ta, khiến ta thực không thể nào quên được. Ta nhiều lần muốn đánh liều định nhờ người đến quý phủ đề thân, nhưng lại sợ cô nương không đồng ý, nên đành phải chôn chặt nỗi tương tư tận đáy lòng. Vừa rồi thấy nàng đau đớn tột cùng, lòng ta bất nhẫn, nhất thời mê muội đã mạo phạm cô nương, thực tội đáng muôn chết! Xin nhận sự trách phạt của cô nương!” Nói đoạn bất ngờ quỳ phục xuống đất.

Nam Cung Phóng tự trách mình như thế đã khiến Triệu Hân Di hơi yên tâm phần nào, đưa mắt nhìn vị tam công tử danh chấn Dương Châu của Nam Cung thế gia, nét mặt nàng thoáng hiện lên thần tình phức tạp, do dự một lúc, cuối cùng mới nghiến chặt răng, rốt cuộc cũng đưa ra một quyết định vừa đau khổ vừa bất tắc dĩ. Nàng bất ngờ quay người đi, không dám để Nam cung Phóng nhìn thấy hai hàng nước mắt đang lã chã tuôn rơi của mình. Kìm nén nỗi đau khổ trong lòng, nàng bình tĩnh nói: “Nam Cung công tử, Văn Giai ca từ nhỏ đã là thanh mai trúc mã của Hân Di, tình như huynh muội. Chỉ cần công tử có thể cứu mạng Văn Giai ca ca, việc gì công tử muốn, Hân Di đều nghe theo. Ngoài việc đó ra, Hân Di dẫu là quy y cửa Phật, trọn đời không xuất giá, cũng không dám nhận ý tốt của công tử.”

Nam Cung Phóng lưỡng lự một chút rồi vẫn nghiến răng gật đầu: “Được! Ta sẽ làm hết khả năng để cứu mạng Văn Giai ca ca của nàng.”

Trong giây lát, trong đầu Nam Cung Phóng đã đặt ra một chủ ý mới, cứ xem như là bỏ qua cái mạng Lạc Văn Giai thì cũng phải đầy gã đi xa nghìn dặm, đến một nơi mà gã vĩnh viễn ko bao giờ mong trở lại được nữa,  một nơi rất gần với địa ngục…

“Không còn sớm nữa, chuẩn bị xuất phát!” Mấy tên nha dịch phụ trách áp giải phạm nhân cố ý thúc giục, thừa cơ kiếm chác. Mấy người đến tiễn thân nhân vội lấy mấy lạng bạc ra lượt dúi vào tay từng người một, khi ấy bọn chúng mới lại tiếp tục ngồi xuống quán rượu ven đường tiếp tục uống rượu tán ngẫu.

Đó là cổng Tây thành Dương Châu, mười mấy phạm nhân bị đày đi biên cương đều tập trung tại đây để nói lời tạm biệt với người thân. Mọi người lưu luyến không rời, tiếng khóc hoà trộn với tiếng gọi nhau ầm ĩ, cảnh tương hết sức hỗn loạn. Lạc Văn Giai mặt mũi nhem nhuốc, tóc tai bù xù, mặt mũi đờ đẫn, duy chỉ đôi mắt là còn chút sinh khí, không ngừng nhìn quanh tìm kiếm gì đó trong đám người.

“Đừng nhìn nữa! Không còng ai đến nữa đâu!” Người chú họ đến tiễn biệt gã ngán ngẩm nói. Y là con trai thứ của Lạc Tông Hàn, tuy vai vế là chú của Lạc Văn Giai nhưng chỉ hơn gã có mấy tuổi, bình thường quan hệ với gã cũng rất tốt.

“Mẹ cháu đâu? Tại sao bà không đến? Còn Di nhi nữa?” Lạc Văn Giai nôn nóng hỏi. Chỉ thấy người chú họ ủ rũ cúi đầu hạ giọng đáp “Mẹ cháu vì chuyện của cháu mà ngã bệnh liệt giường, ba ngày trước đã ôm hận ra đi rồi. Cha ta bị cú đả kích này, giờ tính mạng cũng chỉ còn đường tơ, sợ rằng … Còn Triệu cô nương, cháu đừng nên hỏi nữa làm gì.”

“Mẹ!” Lạc Văn Giai kêu lên một tiếng khe khẽ, trong mắt không còn giọt lệ nào mà chảy ra nữa. Đờ đẫn mất một lúc, gã đột nhiên hỏi, “Nói cho cháu biết, tại sao Di nhi không đến!”

Người chú họ gã lưỡng lự một lúc rồi gằn giọng nói: “Nàng ta đã gả làm thiếp cho Nam Cung Phóng rồi, sẽ không đến nữa đâu!”

Lạc Văn Giai toàn thân bủn rủn, những hoài nghi trong lòng cuối cùng lại trở thành hiện thực đáng sợ. Gã phẫn nộ ngẩng đầu nhìn lên, tựa hồ như muốn chất vấn cao xanh, lẽ nào nàng thực sự đã bị gia thế và vẻ bề ngoài của Nam Cung Phóng quyến rũ, cùng hắn bày mưu gạt mình? Đúng lúc ấy, gã thấy ở phía xa xa có một dáng hình thân quen, vừa khắc khoải nhớ thương, vừa yêu cũng lại vừa hận. Khó nhọc lấy ra viên đá vũ hoa đã thuyết phục mình nhận tội ấy, Lạc Văn Giai bất ngờ phi ra khỏi đám đông, loạng choạng cố chạy về phía người con gái đang dàn dụa nước mắt ở phía xa, gã muốn chấn vấn đối phương: Tại sao đến người tin tưởng nhất, cũng nhẫn tâm lừa gạt gã?

“Phạm nhân chạy chốn kìa!” Có người hô hoán lên. Mấy tên nha dịch lập tức vứt bát rượu đuổi theo, tay vun lên, gậy giáng xuống, tức thì đánh cho tên phạm nhân đang chạy ngã lăn ra đất. Lạc Văn Giai vẫn cố bò về phía trước, tay giơ cao viên đá vũ hoa có chữ “Tâm”, khàn giọng hét lớn: “Tại sao? Tại sao lừa ta?”

Một gậy quật mạnh vào cổ tay Lạc Văn Giai, làm viên đá vũ hoa văng ra xa, mấy tên nha dịch không nói không rằng, cứ nện túi bụi, đánh cho Lạc Văn Giai lăn lộn dưới đất. Đúng lúc đó, từ xa bỗng vang lên một tiếng quát: “Không đánh nữa! Các ngươi đánh chết người ta mất!”

Mây tên nha dịch dừng tay, nhìn về phía phát ra tiếng mắng thì nhìn thấy một đoàn bảo tiêu đang đi dọc theo đường lớn tới gần, trên lá tiêu kỳ có viết một chữ “Thư” lớn. Bên dưới tiêu kỳ, một thiếu nữ áo đỏ điệu bộ thập phần oai phong lẫm liệt chừng mười bốn, mười lăm tuổi đang cưỡi trên tuấn mã màu đỏ sẫm từ từ đi đến. Thiếu nữ tuy nhỏ tuổi nhưng lại toát lên một thứ khí phách hào sảng thiêm bẩm, tuy gió bụi đầy mặt, song cũng không thể che mờ được một vẻ đẹp tự nhiên chỉ có trong bản sắc giang hồ. Tiếng quát vừa nãy, hiển nhiên chỉ có thể phát ra từ miệng nàng thiếu nữ giang hồ không biết trời cao đất dày, cũng chẳng hiểu lễ giáo là thứ gì này mà thôi.

“Mẹ đứa nào lắm mồm đó?” Một tên nha dịch chửi. Lời vừa dứt đã thấy thiếu nữ quất một roi đánh “vút”, đồng thời mắng: “Rửa sạch cái miệng đi một chút!”

Tên nha dịch kia nghiêng đầu né tránh theo bản năng, tuy tránh được vào đầu, nhưng sợi roi vẫn quật mạnh xuống vai, khiến hắn rú lên đau đớn, vung gậy lên định đánh trả. Thiếu nữ nhìn thấy vậy lập tức tung mình xuống ngựa, cầm roi chuẩn bị ứng chiến.

“Á Nam dừng tay!” Một hán tử trung niên mặt mũi từng trải từ trong đoàn bảo tiêu đi ra, cao giọng quát mắng nàng ta. Đoạn y lại quay người lại phía đám nha dịch đưa hai tay chào, cười cười nói, “Mấy vị quan sai đại ca, xin đừng chấp tiểu nữ không biết chuyện.”

“Ta còn tưởng ai nữa chứ?” Tên cầm đầu đám nha dịch vừa cười vừa đáp lễ, “Thì ra là Thư tiêu đầu. Ông phải quản giáo cô khuê nữ này cho tốt vào chứ, mấy năm không gặp mà đã lớn như vậy rồi, không ngờ càng lớn lại càng điêu ngoa tuỳ tiện đấy.”

“Vâng! Phải lắm phải lắm!” Hán tử trung niên thở dài than, “Đều tại mẹ nó mất sớm, ta lại bận chuyện áp tiêu, nào còn thời gian đâu để dạy dỗ? Đành để cho nói chơi chung với đám con trai ngoài đường phố, kết quả thành ra cái tính ngang bướng chẳng biết sợ trời sợ đất là gì này đây, cứ ba ngày hai bận lại gây hoạ một lần. Còn không à, ta đành phải cho nó theo đoàn bảo tiêu vậy.” Nói đoạn y quay sang cô thiếu nữ kia, “Còn không mau thu roi lại, ta lỗi với mấy vị thúc thúc đi.”

“Cha! Là cái miệng của họ không sạch sẽ trước mà.” Cô thiếu nữ bĩu môi, không vui ra mặt. Tuy vừa mới rồi, cô nàng nói đánh là đánh luôn, ngang ngược chẳng khác gì đám nam nhi, nhưng trước mặt cha mình, thì lại trở về với bản tính nhõng nhẽo õng ẹo của một cô gái bé bỏng.

“Được rồi, được rồi! Tốt xấu gì ta cũng thấy nó lớn lên từng ngày, lẽ nào còn không biết tính cách của nó sao?” Tên đầu lĩnh nha dịch cười cười xua tay rồi quay đầu lại lệnh cho tên thuộc hạ bị đánh thu côn lại, rồi chắp tay bái chào trung niên hán tử kia: “Thư tiêu đầu đi đường may mắn, chúng ta cũng phải lên đường đây, xin cáo từ, hôm khác ta sẽ đến quý phủ xin chén rượu nhạt.”

“Nói phải, phải lắm! Thư mỗ rất hoan nghênh vô cùng!” Thư tiêu đầu vội đưa hai tay lên đáp lễ.

“Lên đường!” Tên đầu lĩnh hô một tiếng dài, gọi đám thuộc hạ, mặc cho người nhà phạm nhân than khóc van nài, cuối cùng đoàn áp giải phạm nhân cũng lên đường.

Lạc Văn Giai hoàn toàn không để tâm đến tất cả những chuyện đang diễn ra xung quanh, cũng chẳng buồn lau máu mũi máu mồm, chỉ chăm chăm bò tìm viên đá vũ hoa vừa bị đánh bay ra kia. Đúng lúc gã nhìn thấy viên đá đó, đang định trườn tới nhặt thì liền bị hai tên nha dịch xốc nách dựng dậy, chẳng cho gã phân trần tiếng nào, cứ thế lôi đi. Hai chân Lạc Văn Giai đạp loạn lên, ra sức giằng lại, trong miệng lùng bùng nói chẳng thành tiếng rõ ràng: “Tim ta! Tim của ta!”

Thiếu nữ áo đỏ  nhìn Lạc Văn Giai bị kéo đi với ánh mắt thương hại, đang định quay người nhảy lên ngựa, bất ngờ phát hiện dưới chân có vật gì đó óng ánh. Cô nàng tò mò nhặt lên,  hoá ra là một viên đá vũ hoa rất đẹp. Thiếu nữ đặt nó trong lòng bàn tay xem kỹ, lập tức nhìn thấy có một chữ “tâm” được tạo thành tự nhiên, tức thì thích thú không nỡ rời tay, liền đeo luôn lên cổ. Đúng lúc đó, chợt nghe tiếng gọi của cha nàng đằng xa: “Á Nam, mau đi thôi!”

“Con đến đây!” Cô thiếu nữ đáp một tiếng ngọt ngào, rồi quay người nhảy lên ngựa, quất một roi, con ngựa đỏ chồm bốn vó lên, nhanh chóng đuổi kịp đoàn bảo tiêu đi cách xa phía trước.

“Tim ta! Ôi tim ta!” Lạc Văn Giai hai mắt ngắm nhiền, miệng lẩm bẩm như đang chìm trong cơn ác mộng không thể tự thoát ra được. Một gáo nước lạnh hất vào mặt, cuối cùng gã cũng tỉnh lại từ trong cõi mộng. Đưa mắt nhìn bốn phía xung quanh chỉ thấy toàn cát vàng kéo dài ra vô tận, còn một trạm dịch nhỏ bé nằm trơ trọi trong cát… Một lúc sau gã mới nhớ ra, mình đã bị áp giải qua ngàn dặm từ Dương Châu đến Cam Túc, giờ đang trên đường đến Thanh Hải.

“Hảo tiểu tử! Như vậy mà cũng chịu nổi!” Đao Ba nâng mặt Lạc Văn Giai lên nhìn kỹ một lúc rồi bất ngờ giơ ngón tay cái lên nói: “Giỏi lắm! Ngươi là thằng khốn nạn, cũng là thằng khốn nạn rất giỏi. Đao Ba lão tử đây đã gặp phường cướp của giết người nhiều rồi, nhưng chưa bao giờ gặp thằng khốn nạn nào kiên cường như ngươi. Được! Từ hôm nay trở đi lão tử sẽ coi ngươi là người, không làm khó ngươi nữa, đưa ngươi đi nốt quãng đường này trong yên ả.” Nói rồi, Đao Ba quay người lại phía đám thuộc hạ buông một tiếng: “Thu dọn đồ đạc, lên đường!”

Dưới roi da và gậy gộc của đám quan sai, một nhóm người bị xiềng xích đội ánh mặt trời thiêu đốt khốc liệt của sa mạc Đại Qua Bích, tiếp tục bước trên con đường gian nan không biết bao giờ mới đến tận cùng ấy.

[1] Hình phạt kẹp ngón tay

[2] Hình phạt đánh roi