Julia Quinn/ Công tước và em: Phần mở đầu

Posted on 22/07/2011 bởi

1




Mở đầu

N

gày sinh của Simon Arthur Henry Fitzranulph Basset, Bá tước Clyvedon, trùng với ngày lễ lớn. Nhà thờ đổ chuông trong hàng giờ liền, rượu sâm banh được hào phóng xả lênh láng trong khuôn viên tòa lâu đài khổng lồ, nơi cậu bé mới sinh gọi là nhà, và cha ngài Bá tước nhỏ tuổi đề nghị toàn thể dân làng Clyvedon nghỉ việc để tham dự yến tiệc và kỳ nghỉ.

“Đây không phải đứa trẻ bình thường đâu,” bác bán bánh mì nói với người thợ rèn.

Vì Simon Arthur Henry Fitzranulph Basset không phải cả đời sẽ sống với tước vị Bá tước Clyvedon. Đó chỉ là một tước vị có được do ưu đãi. Simon Arthur Henry Fitzranulph Basset – cậu bé con có nhiều tên hơn bất kỳ đứa trẻ nào khác – là người thừa kế một trong những tước Công lâu đời nhất và giàu có nhất nước Anh. Và cha cậu bé, ngài Công tước Hastings đời thứ chín, đã chờ đợi khoảnh khắc này hàng bao nhiêu năm rồi.

Khi đứng trong đại sảnh bên ngoài phòng sinh của vợ, nâng niu đứa con đỏ hỏn đang khóc ầm ĩ trong tay, trái tim ngài Công tước gần như nổ tung vì tự hào. Giờ quá bốn mươi tuổi rồi, ngài đã chứng kiến biết bao người bạn của mình – tất cả đều là Công tước và Bá tước – sinh ra hết người thừa kế này đến người thừa kế nọ. Nhiều người buộc phải chấp nhận có một vài cô con gái rồi mới sinh được đứa con trai quý giá, nhưng cuối cùng, tất cả họ đều được yên lòng vững dạ vì dòng dõi của họ sẽ tiếp tục, dòng máu của họ sẽ được truyền lại cho thế hệ tinh hoa tiếp theo của nước Anh.

Nhưng với ngài Công tước Hastings thì không phải vậy. Mặc dù trong suốt cuộc sống vợ chồng mười lăm năm của họ, vợ ngài đã năm lần mang thai, song chỉ hai lần bà hạ sinh, và cả hai lần con ngài đều chết yểu ngay khi mới chào đời. Sau lần mang thai thứ năm, kết thúc bằng vụ sẩy thai vào tháng thứ năm của thai kỳ, các bác sĩ đều cảnh báo họ không nên thử thụ thai thêm bất kỳ lần nào nữa. Mạng sống của chính nữ Công tước đang trong tình trạng nguy hiểm. Bà quá yếu, quá mỏng manh, và có thể, họ nhẹ nhàng nói, quá lớn tuổi rồi. Ngài Công tước chẳng thể làm gì ngoài việc đành cam chịu thực tế rằng tước Công rồi sẽ không còn liên quan đến dòng họ Basset nữa.

Nhưng nữ Công tước, Chúa phù hộ cho bà, biết rõ vai trò của mình, và sau sáu tháng phục hồi sức khỏe, đã mở cánh cửa thông giữa hai phòng ngủ, và ngài Công tước lại tiếp tục công cuộc kiếm tìm một đứa con trai.

Năm tháng sau, nữ Công tước báo cho ngài biết bà đã có mang. Tâm trạng ngài Công tước lập tức phấn chấn hẳn lên với một niềm tin không gì lay chuyển được – chắc chắn là không gì lay chuyển được – rằng lần mang thai này sẽ thành công. Nữ Công tước đang nằm liệt giường tại thời điểm nhận ra mình đã trễ tháng. Bác sĩ đến khám cho bà mỗi ngày, và suốt thời kỳ mang thai ấy, ngài Công tước đã tìm đến vị bác sĩ uy tín nhất ở London và trả cho ông ta một khoản hậu hĩnh để ông tạm thời rời phòng mạch đến sống ở lâu đài Clyvedon.

Ngài Công tước lần này quyết không phó mặc số phận nữa. Ngài sẽ có một đứa con trai, và tước vị sẽ vẫn nằm trong tay dòng họ Basset.

Nữ Công tước trải nghiệm sự đau đớn sớm hơn một tháng, người ta liền lót đệm xuống dưới hông bà. Trọng lực sẽ giúp đứa bé bên trong, bác sĩ Stubbs giải thích. Ngài Công tước nghĩ đó là một lập luận có cơ sở, và đến chiều khi vị bác sĩ đi nghỉ, ngài luồn thêm một tấm đệm khác cho vợ ngài, giúp bà nằm nghiêng theo một góc hai mươi độ. Bà giữ yên tư thế ấy suốt một tháng.

Rồi cuối cùng, khoảnh khắc quyết định cũng đã đến. Tất cả mọi người đều cầu nguyện cho ngài Công tước vốn luôn khao khát có người thừa kế, và có một số người còn nhớ đến chuyện cầu nguyện cả cho nữ Công tước, vốn càng ngày càng mảnh khảnh và yếu ớt, ngay cả khi vòng bụng mỗi lúc một thêm tròn và to hơn. Tất cả đều cố gắng không hy vọng quá nhiều – xét cho cùng, nữ Công tước đã hai lần hạ sinh và cả hai lần đều phải chôn đứa bé. Ngay cả nếu như bà mẹ tròn con vuông thì đứa trẻ ấy, chà, rất có thể là một bé gái.

Khi tiếng hét của nữ Công tước càng lúc càng lớn và lặp lại thường xuyên hơn, ngài Công tước xô cửa bước vào phòng bà, mặc kệ lời phản đối của bác sĩ, bà đỡ và cả đám hầu gái. Cho dù nơi đây có là chốn máu me hỗn độn thì ngài vẫn nhất quyết phải ở đây để chứng kiến giây phút được biết giới tính của đứa bé.

Đầu đứa bé xuất hiện trước, rồi đến bờ vai. Ai nấy đều vươn người về phía trước để quan sát nữ Công tước căng mình ra rặn, và rồi…

Và rồi ngài Công tước đã biết rằng Chúa có tồn tại, và Chúa vẫn mỉm cười với toàn thể dòng tộc Basset. Ngài cho bà đỡ một phút để lau sạch đứa bé, để bà đặt cậu nhóc nhỏ bé vào vòng tay ngài, rồi ngài hùng dũng tiến vào đại sảnh để khoe cậu với cả thế giới.

“Ta có một đứa con trai!” ngài gầm lên. “Một đứa con trai nhỏ xíu hoàn hảo!”

Và trong lúc tất cả người hầu vỗ tay thở phào nhẹ nhõm, ngài Công tước cúi nhìn vị Bá tước tí hon mà nói. “Con thật hoàn hảo. Con mang họ Basset. Con là của ta.”

Công tước muốn ẵm cậu ngài ra ngoài để chứng minh với mọi người rằng cuối cùng ngài đã cho ra đời một thằng bé khỏe mạnh, nhưng vào ngày đầu tháng Tư đó trời đang se se lạnh, vậy là ngài đành cho phép bà đỡ mang thằng bé đến chỗ mẹ nó. Ngài Công tước leo lên một trong những con ngựa đua xuất sắc của mình mà cưỡi đến bữa tiệc tùng, hét vang về vận may của mình cho bất kỳ ai chịu lắng nghe.

Trong lúc đó, mất quá nhiều máu sau khi sinh, nữ Công tước dần dần chìm vào hôn mê, rồi cuối cùng bà ra đi.

Ngài Công tước tiếc thương vợ. Ngài thực sự tiếc thương. Ngài không yêu bà, dĩ nhiên, và bà cũng chẳng yêu ngài, nhưng họ đã là bạn bè theo một cách thức xa cách lạ kỳ nào đó. Ngài Công tước không mong mỏi gì hơn từ cuộc hôn nhân này ngoài một đứa con trai và một người thừa kế, và xét trên phương diện này, vợ ngài đã chứng tỏ là một người vợ mẫu mực. Ngài bố trí người đặt hoa tươi bên cạnh mộ phần của bà hằng tuần, bất kể đó là mùa nào trong năm, và bức chân dung của bà được chuyển từ phòng khách vào đại sảnh, tại một vị trí trang trọng trên lồng cầu thang.

Sau đó, ngài Công tước bắt đầu xúc tiến công cuộc nuôi dạy cậu con trai.

Tất nhiên, ngài chẳng có mấy việc để làm trong năm đầu tiên. Con ngài vẫn còn quá nhỏ cho những bài học về quản lý đất đai và trách nhiệm, nên ngài Công tước để Simon lại cho bảo mẫu và lên đường đi London, để rồi tại đây, cuộc sống của ngài vẫn tiếp diễn như trước khi ngài được ban cho vai trò làm cha, ngoại trừ việc ngài buộc tất cả mọi người – thậm chí cả đức Vua – phải chiêm ngưỡng bức tranh nhỏ họa hình con trai ngài ngay sau khi thằng bé chào đời.

Ngài Công tước thỉnh thoảng ghé thăm Clyvedon, rồi chuyển hẳn về vào dịp sinh nhật hai tuổi của Simon, sẵn sàng đảm nhận trách nhiệm dạy dỗ thằng bé. Ngài mua một chú ngựa con, chọn sẵn một khẩu súng nhỏ để cậu bé sau này đi săn cáo, và ngài cũng thuê trước gia sư để dạy mọi môn học cần thiết cho con trai ngài.

“Cậu ấy còn quá bé cho tất cả những thứ này!” bảo mẫu Hopkins la lên.

“Vớ vẩn,” Hastings đáp trả với vẻ bề trên. “Rõ ràng là ta không trông đợi thằng bé mau chóng nắm vững hết được bất cứ vấn đề nào trong số này, nhưng không bao giờ là quá sớm để bắt đầu giáo dục một Công tước.”

“Cậu ấy có phải Công tước đâu,” bà bảo mẫu lẩm bẩm.

“Nó sẽ là Công tước.” Hastings quay lưng đi và cúi xuống cạnh cậu con trai lúc này đang xây một tòa lâu đài xiêu vẹo bằng những hình khối trên sàn. Ngài Công tước đã không xuống Clyvedon trong vài tháng, và rất hài lòng với sự trưởng thành của Simon. Cậu bé giờ đây đã là một cậu trai cứng cáp, khỏe mạnh, với mái tóc nâu bóng mượt và đôi mắt xanh dương trong trẻo.

“Con đang xây cái gì thế, con trai?”

Simon mỉm cười chỉ cho cha cậu.

Hastings ngước nhìn bảo mẫu Hopkins. “Thằng bé không nói à?”

Bà lắc đầu. “Vẫn chưa, thưa ngài.”

Công tước cau mày. “Nó đã hai tuổi. Lẽ ra nó phải biết nói rồi chứ?”

“Một vài đứa trẻ cần nhiều thời gian hơn những đứa khác, thưa ngài. Cậu ấy thực sự là một cậu bé thông minh.”

“Dĩ nhiên thằng bé thông minh rồi. Nó là người nhà Basset cơ mà.”

Bà bảo mẫu gật đầu. Bà luôn luôn gật đầu mỗi khi ngài Công tước nói về sự vượt trội của dòng dõi Basset. “Có thể,” bà gợi ý, “cậu ấy chỉ là không có gì muốn nói thôi.”

Ngài Công tước trông không có vẻ gì là bị thuyết phục, nhưng ngài chỉ đưa cho Simon chú lính chì đồ chơi, vỗ nhẹ vào đầu thằng bé rồi rời khỏi nhà để tập luyện với con ngựa cái ngài mới mua từ Hầu tước Worth.

 

Tuy nhiên, hai năm sau, ngài không còn lạc quan được nữa.

“Tại sao nó vẫn chưa nói?” ngài phát hỏa.

“Tôi không biết,” bà bảo mẫu trả lời, vặn xoắn hai bàn tay.

“Bà đã làm gì nó?”

“Tôi không làm gì cả!”

“Nếu bà thực hiện đúng đắn công việc của mình,” Công tước giận dữ chĩa ngón tay về phía Simon, “thì đáng lẽ nó phải nói được rồi mới phải.”

Simon, đang tập viết tại cái bàn nhỏ của mình, quan sát cuộc cãi vã với vẻ thích thú.

“Nó đã bốn tuổi rồi, khốn kiếp thật,” Công tước rống lên. “Lẽ ra nó phải nói được rồi chứ.”

“Cậu ấy biết viết,” bà bảo mẫu vội nói. “Tôi đã nuôi năm đứa trẻ, ấy vậy nhưng chẳng đứa nào biết viết như cậu chủ Simon.”

“Viết tốt để làm cái quái gì nếu nó không nói được chứ.” Công tước Hastings quay qua Simon, cơn thịnh nộ cháy bùng trong ánh mắt. “Nói đi, thằng ranh con!”

Simon lùi lại, môi dưới run lên.

“Thưa ngài!” bà bảo mẫu kêu lên. “Ngài đang làm đứa bé sợ đấy.”

Công tước Hastings quay phắt lại đối diện với bà. “Có lẽ cũng cần phải làm cho nó sợ. Hoặc có lẽ cái nó cần là sự trừng phạt thích đáng. Có lẽ một cú chọc ra trò sẽ giúp nó tìm lại được giọng nói đấy.”

Ngài Công tước chộp lấy cái lược cán bạc mà bà bảo mẫu đã dùng để chải tóc cho Simon và tiến về phía thằng bé. “Ta sẽ làm cho con nói, thằng nhỏ ngốc nghếch…”

“Không!”

Bà bảo mẫu há hốc miệng. Công tước đánh rơi lược. Đây là lần đầu tiên cả hai nghe thấy giọng nói của Simon.

“Con vừa nói gì?” Công tước thì thầm, nước mắt ứa ra.

Nắm chặt bàn tay ép vào hai bên sườn, Simon hếch cái cằm nhỏ của mình lên mà nói, “Đừng đ-đ-đ-đ-đ-đ…”

Mặt ngài Công tước tái nhợt như người chết. “Nó nói gì thế?”

Một lần nữa Simon cố gắng nói thành câu. “Đ-đ-đ-đ-đ-đ-đ…”

“Lạy Chúa tôi.” Công tước thở hắt ra, kinh hãi. “Thằng bé là đứa thiểu năng.”

“Cậu ấy không phải người thiểu năng!” bà bảo mẫu thét lên, vòng tay che chở cậu bé.

“Đ-đ-đ-đ-đ-đ-đ-đừng đ-đ-đ-đ-đ-đ-đánh,” Simon hít một hơi thở sâu, “con”.

Hastings rũ xuống chỗ ngồi bên cửa sổ, gục đầu vào tay. “Ta đã làm gì để bị như thế này? Ta có thể làm gì…”

“Ngài nên khen ngợi cậu bé!” bảo mẫu Hopkins nhắc nhở. “Ngài đã đợi suốt bốn năm để nghe cậu ấy nói, và…”

“Và nó là một thằng ngốc!” Công tước Hastings gầm lên. “Quỷ thần ơi, một thằng nhỏ ngốc nghếch đần độn!”

Simon bật khóc.

“Cái tên Hastings sẽ thành tên của một kẻ ngốc nghếch,” Công tước rền rĩ. “Suốt bao nhiêu năm cầu nguyện về một người thừa kế, thế mà giờ tất cả đã sụp đổ. Ta đáng lẽ nên để tước vị lại cho họ hàng ta.” Ngài quay lưng khỏi cậu con trai lúc này vẫn đang vừa thút thít vừa cố lau sạch nước mắt, gắng sức chứng tỏ cho người cha thấy sự mạnh mẽ của mình. “Ta không thể nhìn mặt nó được nữa,” ngài thở dốc. “Ta không thể chịu được khi nhìn nó.”

Và với những lời đó, ngài Công tước sải bước ra khỏi phòng.

Bảo mẫu Hopkins ôm chặt cậu bé vào lòng. “Con không phải đứa ngốc,” bà thầm thì quả quyết. “Con là đứa trẻ thông minh nhất mà ta biết. Và nếu bất kỳ ai có thể học được cách nói cho rõ ràng, thì ta biết đó chính là con.”

Simon rúc vào trong vòng tay ấm áp của bà và sụt sịt.

“Chúng ta sẽ cho cha con thấy,” bà bảo mẫu hứa hẹn. “Cho dù đó có là điều cuối cùng ta có thể làm được thì ta cũng sẽ làm cho ông ấy phải cứng họng.”

 

Bảo mẫu Hopkins đã chứng minh lời bà nói là đúng. Trong khi Công tước Hastings trở về London và cố vờ như ngài không có đứa con trai, bà dành từng giây từng phút với Simon, phát âm từng từ và âm tiết, không tiếc lời ca ngợi mỗi khi cậu đúng, và cổ vũ cậu mỗi khi cậu không làm được.

Sự tiến bộ diễn ra chậm chạp, nhưng khả năng nói của Simon ngày càng được cải thiện hơn. Vào năm sáu tuổi, “đ-đ-đ-đ-đ-đ-đ-đừng” đã rút gọn lại thành “đ-đ-đừng”, và khi cậu lên tám, cậu có thể nói cả câu mà không hề ấp úng. Cậu vẫn còn gặp rắc rối mỗi khi tinh thần bất an, và bà bảo mẫu phải nhắc nhở thường xuyên rằng cậu cần giữ bình tĩnh, sắp xếp lại từ ngữ nếu cậu muốn nói một câu hoàn chỉnh.

Nhưng Simon rất quyết tâm, lại cũng thông minh nữa, và có lẽ quan trọng nhất, cậu cứng đầu chết đi được. Cậu học cách hít thở trước mỗi câu nói, cân nhắc từ ngữ trước khi cố gắng phát âm ra. Cậu nghiên cứu cảm giác của khuôn miệng khi cậu phát âm đúng, và cố gắng phân tích sai sót nằm ở đâu khi cậu nói không chuẩn được.

Và cuối cùng, vào năm mười một tuổi, cậu đến trước mặt bảo mẫu Hopkins, dừng lại để sắp xếp suy nghĩ, và nói, “Cháu nghĩ đã đến lúc chúng ta đi gặp cha.”

Bà bảo mẫu ngẩng phắt đầu lên. Ngài Công tước đã không thèm để mắt đến con trai trong bảy năm liền. Ngài cũng không trả lời bất kỳ dòng thư nào của Simon.

Simon đã gửi có khi phải đến cả trăm lá thư.

“Cháu chắc chắn chứ?” bà hỏi.

Simon gật đầu.

“Tốt lắm. Ta sẽ chuẩn bị xe ngựa. Sáng mai chúng ta sẽ lên đường đi London.”

Cuộc hành trình mất hơn một ngày rưỡi, và khi cỗ xe ngựa lăn bánh đến Dinh thự Basset thì trời đã sâm sẩm tối. Simon tò mò ngắm nhìn đường phố London nhộn nhịp trong lúc được bảo mẫu Hopkins dẫn đến bậc thềm. Cả hai đều chưa từng đặt chân đến Dinh thự Basset, nên khi đến bên cánh cửa ra vào rồi, bà bảo mẫu chẳng biết phải làm gì ngoài việc gõ cửa.

Cánh cửa bật mở trong vài giây, và một vị quản gia oai vệ liếc xuống nhìn họ.

“Giao hàng,” lão ta ngân nga, gần như đóng sầm cửa lại, “đi cửa sau.”

“Khoan đã!” bà bảo mẫu vội nói, nhét chân vào khe cửa. “Chúng tôi không phải người hầu.”

Lão khinh khỉnh liếc nhìn bộ dạng bà.

“Tôi đúng là người hầu, nhưng cậu ấy không phải.” Bà nắm tay Simon kéo cậu về phía trước. “Đây là Bá tước Clyvedon, và ông phải cư xử cho phải phép với cậu ấy.”

Miệng người quản gia há hốc và lão phải chớp mắt vài lần rồi mới nói được, “Theo những gì tôi hiểu thì Bá tước Clyvedon đã chết.”

“Cái gì?” bà bảo mẫu rít lên thất thanh.

“Chắc chắn là ta vẫn chưa chết!” Simon hét với tất cả sự căm phẫn chính đáng của đứa trẻ mười một tuổi.

Lão quản gia quan sát Simon và ngay lập tức nhận ra cậu có dáng vẻ của người họ Basset, vậy nên cho cả hai vào.

“Tại sao ngươi nghĩ là ta đã c-chết?” Simon hỏi, tự rủa thầm bản thân vì đã lắp bắp, nhưng không lấy làm ngạc nhiên. Cậu thường xuyên nói lắp mỗi khi giận dữ.

“Tôi không nói được,” viên quản gia trả lời.

“Hiển nhiên là có đấy,” bà bảo mẫu bắn trả. “Ông không thể nói những chuyện kiểu thế trước một cậu bé mới chỉ chừng ấy tuổi mà không có lấy một lời giải thích.”

Lão quản gia im lặng trong một thoáng, rồi cuối cùng cũng lên tiếng. “Đức ngài đã không nhắc đến cậu trong nhiều năm trời. Lần cuối tôi nghe được, ngài nói rằng ngài chẳng có đứa con trai nào cả. Ngài có vẻ đau khổ khi nói thế, nên chẳng ai bàn về vấn đề đó nữa. Chúng tôi – nghĩa là bọn người hầu kẻ hạ – đoán chắc là cậu đã qua đời rồi.”

Simon cảm thấy quai hàm siết chặt lại, cảm thấy cổ họng rát bỏng.

“Ngài ấy không để tang đúng không?” bà bảo mẫu gặng hỏi. “Ông có nghĩ về điều đó chưa? Sao ông dám khẳng định cậu chủ đã chết nếu cha cậu ấy không để tang?”

Viên quản gia nhún vai. “Đức ngài vẫn thường mặc đồ đen. Có tang hay không vẫn chẳng thay đổi phục trang của ngài.”

“Đây là một sự lăng mạ,” bảo mẫu Hopkins nói. “Ta yêu cầu ông đi báo với Công tước ngay.”

Simon không nói gì. Cậu đang phải hết sức cố gắng kiểm soát cảm xúc của bản thân. Cậu phải vậy. Cậu sẽ không nói được một lời nào với cha trong lúc mọi tế bào máu trong người đang rần rật thế này.

Lão quản gia gật đầu. “Ngài đang ở trên gác. Tôi sẽ đi thông báo ngay là các vị đã tới.”

Bà bảo mẫu bắt đầu điên cuồng bước tới bước lui, lầm bầm trong miệng và nhắc đến ngài Công tước với những từ ngữ hèn hạ nhất trong vốn từ vựng đang được mở rộng đến đáng ngạc nhiên của bà. Simon đứng giữa phòng, ấn tay giận dữ vào hai bên sườn, cố gắng thở sâu.

Mày có thể làm được, cậu gào lên trong tâm trí. Mày có thể làm được.

Bà bảo mẫu quay qua, nhìn thấy cậu đang cố gắng kiểm soát cơn giận dữ và ngay lập tức thở hổn hà hổn hển. “Phải, đúng vậy đấy,” bà nói nhanh, khuỵu gối xuống và nắm lấy tay cậu. Hơn ai hết, bà biết rõ chuyện gì sẽ xảy ra nếu Simon đối mặt với cha trước khi cậu lấy lại được bình tĩnh. “Thở sâu vào. Và đảm bảo cháu đã cân nhắc kỹ trước khi nói. Nếu như cháu có thể kiểm soát…”

“Ta thấy là bà vẫn còn đang nuông chiều thằng bé,” một giọng nói hống hách bật ra từ trên ngưỡng cửa.

Bảo mẫu Hopkins đứng thẳng người lên và chậm chạp quay lại. Bà cố gắng nghĩ đến một câu nói nào đó thể hiện được lòng kính trọng. Bà cố gắng nghĩ đến bất cứ điều gì có thể xoa dịu tình trạng căng thẳng này. Nhưng khi nhìn ngài Công tước, bà lại thấy hình ảnh Simon trong ông, vậy là cơn thịnh nộ của bà bùng nổ. Công tước có thể trông giống hệt con trai, nhưng ngài chắc chắn không phải một người cha đối với cậu bé.

“Ngài, thưa ngài,” bà phun ra, “thật đáng khinh.”

“Còn bà, thưa bà, đã bị sa thải.”

Bà bảo mẫu loạng choạng lùi lại.

“Không ai nói năng kiểu đó với Công tước Hastings,” ông rống lên. “Không ai!”

“Ngay cả đức Vua sao?” Simon chế nhạo.

Hastings quay phắt lại, không nhận ra con trai mình nói năng rất rõ ràng. “Mày,” ông nhỏ giọng nói.

Simon gật đầu cụt ngủn. Cậu đã cố hết sức nói được một câu ra đầu ra đũa, nhưng nó chỉ là một câu ngắn, và cậu không muốn thử vận may thêm một lần nữa. Khi cậu đang cảm thấy muốn phát điên lên như thế này thì không. Thông thường, cậu có thể nói cả ngày mà không lắp bắp, nhưng ngay lúc này…

Ánh mắt chằm chằm của người cha khiến cậu có cảm giác mình chỉ như một thằng nhãi. Một thằng nhãi ngờ nghệch.

Và dường như lưỡi cậu đột nhiên trở nên cứng ngắc, vụng về.

Công tước mỉm cười tàn nhẫn. “Mày định nói gì với bản thân vậy, nhóc? Hả? Mày định nói gì?”

“Sẽ ổn thôi, Simon,” bảo mẫu Hopkins thì thầm, ném cho Công tước cái nhìn giận dữ. “Đừng để ông ta làm cháu bối rối. Cháu có thể làm được, cháu yêu.”

Và không hiểu sao, sự cổ vũ của bà lại càng làm mọi chuyện tệ hơn. Simon đến đây để chứng tỏ bản thân mình với cha, vậy mà giờ đây bà bảo mẫu lại đối xử với cậu như một đứa trẻ con.

“Có chuyện gì vậy?” Công tước châm chích. “Mày bị ăn mất lưỡi rồi à?”

Các bắp cơ của Simon gồng lên đến mức khiến cậu bắt đầu run rẩy.

Hai cha con nhìn nhau chằm chằm như thể không bao giờ dứt ra được, cho đến khi Công tước bật ra tiếng chửi thể và sải bước về phía cửa.

“Mày là sai lầm tệ hại nhất của tao,” ngài rít lên với con trai. “Không hiểu tao đã gây nên tội gì mà phải gánh chịu mày kia chứ, nhưng cầu Chúa phù hộ để tao đừng bao giờ phải nhìn thấy mày lần nữa.”

“Đức ngài!” bảo mẫu Hopkins hét lên phẫn nộ. Sao lại có thể nói với một đứa trẻ như thế chứ. “Lôi nó ra khuất mắt ta đi,” ông quát lại bà. “Bà có thể bảo toàn công việc của mình miễn là giữ nó tránh xa khỏi ta.”

“Đợi đã!”

Công tước chậm chạp quay về phía giọng nói Simon. “Mày vừa nói gì?” ông dài giọng.

Simon hít thở sâu ba hơi dài, môi vẫn mím chặt giận dữ. Cậu bắt quai hàm mình thư giãn, chà xát lưỡi lên vòm miệng, cố gắng nhớ lại cảm giác khi nói rõ ràng. Cuối cùng, ngay khi Công tước định xua cậu đi lần nữa, cậu mở miệng nói. “Con là con trai cha.”

Simon nghe bảo mẫu Hopkins thở phào nhẹ nhõm, và nhìn thấy trong mắt cha cậu sáng bừng lên một sắc thái cậu chưa từng thấy bao giờ. Niềm tự hào. Không nhiều lắm, nhưng vẫn có một chút nào đó, lẩn khuất sâu thẳm bên trong; một chút nào đó đủ để trao cho Simon tia hy vọng nhỏ nhoi.

“Con là con trai cha,” cậu lặp lại, lần này lớn hơn, “và con không p-”

Đột nhiên cổ họng cậu tắc nghẹn. Và Simon điếng người.

Mày có thể làm được. Mày có thể làm được.

Nhưng cổ họng cậu thắt lại, lưỡi cậu cứng đờ, và đôi mắt cha cậu bắt đầu nheo lại…

“Con không p-p-p-”

“Cút về nhà,” Công tước thấp giọng. “Ở đây không có chỗ cho mày.”

Simon cảm nhận được sự chối bỏ của Công tước ngấm đến tận xương tủy, cảm thấy nỗi đau đớn kỳ lạ lan khắp cơ thể, len lỏi vào tận trong tim. Và với nỗi căm hờn tràn ngập, dâng đầy trong mắt, cậu đã lập một lời thề trang trọng.

Nếu không thể trở thành người con trai như ông muốn, thì thề có Chúa, cậu sẽ trở thành đứa con trái ngược một trăm phần trăm…