[Trích đăng] Bộ bộ kinh tâm – Ngoại truyện 5

Posted on 14/03/2012 bởi

14


bobokinhtam4


NGOI TRUYN 5

Chuyn xưa chng th quay trở li

Năm Ung Chính thứ mười ba, ngày hai mươi ba tháng Tám.

Đêm ấy ta không ngon giấc.

Gió ào ào bên ngoài, thoáng nghe tưởng gió trên thảo nguyên, ta mơ màng ngỡ mình quay lại tây bắc, nghe cả tiếng ngựa hí, giật mình choàng tỉnh thì chẳng có ngựa kiêu tung vó, chỉ có gió bị ách lại ngoài Thọ Hoàng điện đang gào thét mà thôi.

Ta khoác áo trở dậy, cầm lấy bầu rượu trên bàn.

Từ năm Ung Chính thứ tư, ta bị lột tước giam cầm ở Thọ Hoàng điện trên Cảnh Sơn, đã chín năm ba tháng chưa sờ tới ngựa. Nơi đây cũng không cần gì ngựa cả, đủng đỉnh cuốc bộ một vòng quanh Thọ Hoàng điện chỉ bằng giờ tàn một tuần hương. Mà một tuần hương, thời ta còn trẻ, đủ để phi tuấn mã khắp doanh trại địch, tiện thể cắt hai thủ cấp xách về.

Bấy giờ, ngựa tốt trên đời mặc sức ta chọn, có bao giờ ngờ rằng một ngày kia chỉ trong mộng mới được trông thấy chúng nó. Dạo ấy mà có kẻ nói ta sẽ bị giam hãm mười năm trong một khoảnh sân chật hẹp, nhất định ta sẽ cười ngất chẳng buồn để ý đến.

Những điều hồi trẻ chúng ta tưởng rằng không thể chịu đựng, chúng ta đã chịu. Những thứ hồi trẻ chúng ta cho rằng không thể đánh mất, chúng ta đã mất.

Nhờ những ký ức kiêu hãnh, anh dũng và bồng bột ấy, trong căn nhà ngột ngạt này ta vẫn sống được.

Nghe kể Đại ca bị giam cầm quá lâu, về sau thường nói sảng. Không biết bị giam thêm mười năm nữa, liệu ta có biến thành điên loạn hay không.

 

Khi trời sáng, ta nhặt một cành cây múa kiếm.

Hôm bọn thị vệ trói ta điệu đến Thọ Hoàng điện, ta đã phẫn nộ đập phá cổng lớn, réo gào đòi giết lão Tứ. Sau bữa đó, ta chỉ được dùng cành cây làm kiếm mà thôi.

Thái giám bên ngoài lại căng thẳng nhìn ta. Ta cười lớn, vừa múa cành cây vừa hát:

Nhớ năm xưa, thương vàng ngựa sắt, khí trùm bốn phương như hổ.

Nguyên Gia hời hợt, giành Lang Cư Tư, chỉ thấy nháo nhào Bắc Cố.

Đã bốn ba năm, ngóng trông còn nhớ, khói lửa Dương Châu lộ…[1]

Cứ về ton hót với lão Tứ đi, rằng ta vẫn bừng bừng sinh lực, khí nuốt sơn hà, rằng ta vẫn nhớ nhung sa trường rong ruổi, thiết mã kim qua.

Một thái giám già bước đến sau lưng, ta không thèm ngó ngàng tới hắn, vuốt ve cành cây và hát:

Ngt ngưỡng khêu đèn ngm kiếm, nh doanh rn tiếng tù và.

Rượu tht nóng chia đu tướng sĩ, đàn sáo tưng bng biên tái ca, duyt binh thu đã xa.[2]

Tân Khí Tật dù phẫn chí đến đâu đi nữa, ít nhất vẫn được dựa kiếm mà hát, còn ta chỉ có thể cầm cành cây lấy lời ca thay tiếng khóc mà thôi.

Lão thái giám lắp bắp thưa:

– Thập tứ gia, đêm qua Hoàng thượng đã băng hà.

Ta vẫn nhìn cành cây trong tay. Lão thái giám tưởng ta chưa nghe rõ, bèn lặp lại:

– Đêm qua Hoàng thượng đã băng hà, mời Thập tứ gia thay tang phục.

Cành cây tuột xuống đất. Ta đứng sững hồi lâu, chợt quay mặt ra cửa cười váng lên:

– Ha ha ha! Anh tính toán trăm đường, cuối cùng vẫn không tính lại với trời. Mười ba năm! Vị trí đó anh chỉ ngồi được mười ba năm.

Bọn thái giám nhảy xổ lại, kẻ thì ôm chân đứa kéo đùi ta, lôi xềnh xệch vào nhà. Từ khi bị giam cầm ở đây, trong mắt bọn chúng ta sớm đã không còn là hoàng tử tôn quý, là Đại tướng quân vương anh dũng của Đại Thanh nữa, mà chỉ là một kẻ sa cơ khốn khổ luôn khiến chúng thấp thỏm vì nguy cơ liên luỵ mất đầu.

Tuy bị giam cầm đã chín năm, nhưng công phu rèn luyện trên lưng ngựa từ nhỏ vẫn chưa mất, ta vận sức hất bọn chúng ra. Lũ thái giám khóc rống giàn giụa nước mắt quỳ xuống, van xin ta thay y phục. Ở ngoài kia tiếng hờ khóc văng vẳng vọng vào.

Tiếng khóc của đám đông khiến ta dần dần tỉnh táo trở lại. Lão ta, hoàng đế Đại Thanh, người anh ruột thịt cùng cha cùng mẹ của ta, chết rồi!

Ta đá bọn thái giám ra. Lão Tứ chết, có thế nào cũng phải uống rượu ăn mừng đã. Ta khổ sở bấy nhiêu năm, không phải là để được trông thấy ngày này hay sao?

Chén đầu tiên cho ngạch nương. Ngạch nương, lão Tứ khiến người chết uất, bây giờ lão cũng chết rồi.

Chén thứ hai kính Bát ca, chén thứ ba kính Cửu ca… Bát ca, Cửu ca, lão Tứ xuống dưới ấy gặp các anh rồi đấy! Lão không còn quần thần, không còn trợ thủ, gặp lão các anh cứ thoả sức mà nện. Ồ không phải, lão Thập tam cũng ở dưới đó, nhất định anh ta vẫn còn giúp lão Tứ. Và cả Nhược Hi…

Ta nâng chén rượu, chếnh choáng nói:

– Lão Thập tam, tôi tiện thể kính anh một chén, vì Nhược Hi…

– Nhược Hi, cô cũng uống một chén đi. Ta không thực hiện được lời hứa với cô. Tro cốt của cô bị lão Tứ cướp mất, rồi không chịu buông theo gió… Trâm vàng của cô bị lão cướp mất, rồi không trả lại cho ta… Lão tước đoạt mọi thứ của chúng ta… cái gì lão cũng cướp sạch…

Ta gạt hết chén, bê cả vò tu ừng ực…

 

Trời tờ mờ sáng, ta tỉnh lại, theo thói quen nhặt cành cây, bắt đầu múa kiếm.Vừa múa vừa ngâm ngợi:

Tr trâm vàng, nâng chén cn,

Lưu luyến chng th chia tay…

Ví m nhân lu Tn trông thy,

Rút trâm cài, b lng tóc mây…

Xót người không áo tìm rương cũ

Thương người thiếu rượu bán trâm này…[3]

Ta từ từ dừng lại.

Lão đã chết rồi! Bọn thái giám không thể đến tâu hót với lão thơ ta ngâm vịnh nữa.

Đột nhiên, việc kiên trì múa kiếm lúc sớm mai suốt mười một năm dưới sự giám sát bỗng biến thành vô bổ, ta ngơ ngác cầm cành cây, lại không biết nên làm gì. Chỉ cảm thấy mệt mỏi rã rời, tựa hồ sức mạnh luôn nâng đỡ ta bỗng chốc tiêu tan hết.

Đám thái giám đều mặc áo xô trắng, im lặng quỳ trước mặt ta. Ta đi vào nhà, nhìn tang phục trên bàn.

Đại ca, bị giam đến năm Ung Chính thứ mười hai thì chết.

Nhị ca, bị giam đến năm Ung Chính thứ hai thì chết.

Tam ca, bị giam đến năm Ung Chính thứ mười thì chết.

Bát ca, bị lột tước tịch thu tài sản gạch khỏi tông phả và bắt giam, chết vào năm Ung Chính thứ tư.

Cửu ca, bị lột tước tịch thu tài sản gạch khỏi tông phả và bắt giam, chết vào năm Ung Chính thứ tư.

Thập tam ca, chết vào năm Ung Chính thứ tám.

Năm Ung Chính thứ mười ba, đến Ung Chính cũng chết.

Ta chậm rãi thay sang tang phục. Khi Đại ca, Nhị ca, Tam ca, Bát ca, Cửu ca qua đời, lão không cho phép ta trở tang, lần này, ta mặc luôn cho tất cả.

 

Đêm khuya, Cao Vô Dung lén lút  tìm đến. Hắn nói:

– Hoàng thượng có khẩu dụ cho Thập tứ gia.

Ta vẫn tu rượu, không quỳ lạy, càng không có ý định tiếp chỉ, mồ ma lão ta còn khinh như mẻ, lẽ nào lão chết rồi ta lại đi quỳ lạy ư? Cùng lắm là chén rượu độc chứ gì!

Cao Vô Dung không để tâm, nói luôn:

– Trâm vàng của ngươi trẫm đem theo xuống đất, trả ngươi tự do.

Mới nghe nửa đầu ta đã tức đến mức đập tan chén, hoàn toàn không để nửa sau vào tai. Không chần chừ lấy một khắc, Cao Vô Dung chạy tọt ra ngoài. Ta đuổi theo, lũ thái giám ở cửa liền kết thành lá chắn sống ngáng đường. Ta là kẻ tù đày, lấy đâu ra tự do? Cao Vô Dung cũng không còn là đại thái giám của hoàng đế nữa, hành sự có thể không lén lút được ư?

 

Mấy hôm sau, chiếu thư truyền đến.

Thanh Thế Tông Ái Tân Giác La Dận Chân, niên hiệu Ung Chính, miếu hiệu Thế Tông, thuỵ hiệu Kính Thiên Xương Vận Kiến Trung Biểu Chính Văn Võ Anh Minh Khoan Nhân Tín Nghị Duệ Thánh Đại Hiếu Chí Thành Hiến hoàng đế.

Tứ a ca Hoằng Lịch kế vị, niên hiệu Càn Long.

Hơn hai tháng nữa sẽ là Càn Long nguyên niên.

Càn Long thay thế Ung Chính, một đế vương mới, một triều đại mới, có nhân vật mới, có câu chuyện mới.

 

Đêm hôm đó, ta mơ thấy Tứ ca.

Bấy giờ ta lên năm, ngạch nương đang cho ta uống sữa dê thì Tứ ca đến vấn an, mang theo tờ giấy có chữ anh viết. Ngạch nương định xem thì ta đánh đổ sữa, bà liền quên bẵng Tứ ca, tiện tay lấy luôn giấy ấy để thấm sữa trên bàn, và ngọt ngào dỗ dành ta. Tứ ca ngồi im bặt, khẽ khàng nhét tờ giấy đã đẫm sữa vào tay áo.

Ngạch nương đi thay bộ y trang bị sữa dây bẩn. Tứ ca mỉm cười nhìn ta, khẽ gọi: “Dận Trinh!”. Ta chòng chọc nhìn anh ấy, không nói năng gì. Anh hỏi:

– Tự viết được tên chưa? Biết không, tên bọn mình phát âm giống nhau đấy!

Ngó quanh thấy không ai chú ý, Tứ ca bèn chấm đầu ngón trỏ vào nước trà, viết từng nét một lên mặt bàn: Dận Chân, Dận Trinh. Anh chỉ hai cái tên đứng liền trên dưới, cười híp mắt bảo:

– Đây là tên ta nhé, đây là tên em này, phát âm giống nhau.

Ta trừng mắt nhìn một lúc, lòng ngưỡng mộ chết đi được, nhưng lại nói ra một cách khinh bạc:

– Chữ anh viết thật là bình thường!  Thầy chẳng qua vì quý phi nương nương nên mới khen anh suốt thế thôi.

Rồi bôi phết lem nhem xoá sạch chữ, nhảy xuống khỏi sập, gọi to: “Ngạch nương!” và lóc cóc chạy đi.

Tỉnh mộng rồi, khoé mắt ta ngấn lệ.

Ta không biết mình khóc vì Tứ ca mười lăm tuổi trong cung ngạch nương ngày ấy, hay vì cuộc đời của một ta đã tan biến theo sự băng hà của hoàng đế Thế Tông.

 

Ba tháng sau ngày Ung Chính qua đời, ta được Càn Long phóng thích.

Ta đứng một lúc trước ngạch cửa Thọ Hoàng điện rồi mới bước qua. Mười năm trước, ta bị áp giải vào Thọ Hoàng điện, mười năm sau, ta tự mình đi ra.

Chỉ vào rồi ra, mà mất đến mười năm trời.

Tứ a ca Hoằng Lịch, à không phải, nên nói là Càn Long đế, ngồi trên ngai rồng điện Cần Chính.

Ta chăm chú quan sát hắn. Đây là con trai lão Tứ, nhưng không thể tìm được chút bóng dáng nào của lão ở khuôn mặt này. Khó mà nói được là ta thấy tiếc hận hay an tâm.

Hắn hỏi ta:

– Thập tứ thúc muốn gì không? Cứ thoải mái mà nói.

Ngẫm nghĩ chốc lát ta đáp:

– Một con ngựa tốt.

Càn Long dường bất ngờ, đăm chiêu quan sát ta. Biết không nên để đế vương thắc mắc trước tâm tư thần tử, ta chủ động giải thích:

– Đã mười năm rồi thần chưa được cưỡi ngựa.

Mười ba năm qua, ai nấy đều mắng ta là lẩn thẩn ngu xuẩn, họ không hiểu rằng không phải ta không biết mưu mô ứng biến, cũng không phải ta không biết uy lực của đế vương, chỉ là không muốn cúi đầu trước lão mà thôi.

Đôi mắt lộ vẻ xót thương, Càn Long sai thái giám đi dắt con hãn huyết bảo mã mà Mông Cổ tiến cống đến.

 

Ta dắt ngựa Càn Long ban, đi ra khỏi Tử Cấm Thành.

Đường cái quan nhộn nhịp người qua lại, tiếng nói cười huyên náo.

Ung Chính là một hoàng đế keo kiệt, lão không cho xây dựng rầm rộ ở Bắc Kinh, nên nơi đây hầu như chưa hay đổi, vẫn là Bắc Kinh thành mà ta quen thuộc ngày nào.

Ta dễ dàng tìm lại được những tửu quán “ngựa gấm, áo cừu, chống kiếm hát hò[4]” năm ấy, cũng còn nhìn thấy Phong Nguyệt lâu nơi Cửu ca từng chè chén vui chơi và quán trà mà Bát ca cùng văn nhân Giang Nam họp mặt.

Trên tửu lâu có thiếu nữ gọi:

– Công tử ơi, công tử đang dắt ngựa kia ơi!

Ta ngẩng đầu nhìn, thiếu nữ vẫy tay về phía sau ta:

– Công tử, ngài quên quạt đây này!

Ta nhìn các ca kỹ đang dựa bao lơn cười đùa.

Tết đèn Nguyên tiêu, ta dẫn một đám thế gia công tử lêu lổng ham chơi ngông nghênh ngạo mạn đến đây uống rượu ngắm hoa đăng, thì chạm mặt Thập tam ca, Nhược Hi, và cả nàng nhã kỹ Lục Vu. Đêm hôm ấy, “ngựa quý xe sang hương ngập phố, đêm thanh gió mát hoa bạt ngàn, sao như mưa, cá rồng múa”[5]

Đằng sau có kẻ khó chịu chọc roi ngựa vào người ta:

– Này, ngươi nhìn gì đấy? Liệu hồn lão gia móc mắt ngươi bây giờ, cút mau!

Hắn vung roi ngựa, điệu bộ như sắp đánh.

Ta không nhìn lên bao lơn nữa, dắt ngựa đi dọc phố, bước chân vẫn vẩn vơ vô định.

Thực tình ta muốn ra tây bắc, tung vó ngàn dặm, thúc ngựa hú dài, ngắm ưng xé vòm không, cá vờn đáy nước.

Nhưng Càn Long sẽ không yên tâm để ta rời Bắc Kinh đâu.

Có điều, cũng đủ rồi.

Ở thành này, mỗi ngóc ngách đều lưu dấu bọn họ và ta. Từng nơi từng chốn một, ta có thể từ từ hồi tưởng.

 


[1] Trích Kinh khẩu Bắc Cố đình hoài cổ, bài từ theo điệu Vĩnh ngộ lạc của Tân Khí Tật.

[2] Trích Vị Trần Đồng Phủ phú tráng từ dĩ kí (vì Trần Đồng Phủ mà làm bài này gửi gắm tráng chí), bài từ theo điệu Phá trận tử của Tân Khí Tật.

[3] Hai câu đầu trích từ Phó kim thoa, bài từ theo điệu Canh lậu tử của Hạ Chú. Hai câu tiếp trích từ Thiền (con ve), thơ của Lý Dĩnh thời Đường. Hai câu cuối trích từ Khiển bi hoài (giải niềm sầu nhớ), thơ của Nguyên Chẩn thời Đường. Bản dịch của Đặng Phúc An và Phạm Mai Phương.

[4] “Ngựa gấm, áo cừu” nguyên văn “ngũ hoa mã, thiên kim cừu”, chữ dùng trong bài thơ Tương tiến tửu của Lý Bạch. Đoạn này phiếm chỉ cảnh sống phù hoa xa xỉ.

[5] Trích Đông phong dạ phóng hoa thiên thụ, bài từ theo điệu Thanh ngọc án của Tân Khí Tật.