[Trích đăng] Vango – Phần I, Chương 4

Posted on 24/01/2013 bởi

0


4552van-go-1


BUỔI SÁNG ĐẦU TIÊN CỦA THẾ GIỚI
Salina, quần đảo Eolie, Sicile,
Mười sáu năm về trước, tháng Mười 1918
Họ đẩy cửa và cơn bão cũng tràn vào cùng với họ.
Họ có bốn người. Bốn người đàn ông khiêng một phụ nữ bất tỉnh, được cuộn trong cánh buồm đỏ. Tất cả đều đứng dậy. Tonino, chủ quán ăn, dọn cái bàn trước lò bánh và gọi hai cô con gái. Người ta đặt thân thể người phụ nữ len tấm gỗ.
– Cô ấy còn sống không? Tonino hỏi.
Cô con gái lớn của ông mở tấm vải đỏ ra, xé chiếc váy ướt sũng và ghé tai lên ngực người phụ nữ. Thực khách, ông chủ, những ngư dân đã mang người phụ nữ đến, cả gian phong đều chờ đợi.
Carla nghe một lúc thật lâu.
– Sao rồi? Carlotta! Tonino kêu lên, sốt ruột.
– Suỵt… cô đáp lại.
Cô không chắc. Gió đang thổi bên ngoài. Một cành hoa giấy quất vào cánh cửa chớp. Không gì nhẹ nhàng hơn nhịp đập con tim. Đối mặt với cơn bão, đó là cuộc chiến giữa cái lục lạc và chiếc kèn đồng.
Cuối cùng Carla cũng ngẩng lên và cười.
– Chị ấy còn sống.
Em gái Carla mang chăn tới để ủ ấm cơ thể người phụ nữ. Cô cầm những hòn đá cuội to, đã được nung ấm gần lửa, bọc chúng trong một miếng vải và như túi chườm nóng, cô luồn vào sát làn da đẫm nước. Hai cô gái khoát tay đuổi đám đàn ông đang bị mê hoặc bởi bờ vai trần.
– Ciao, signori! Ciao!
Họ chăng một tấm ga lên để cách ly và cởi quần áo cho cô gái.
Tonino phục vụ đồ uống cho mọi người.
– Cô ấy từ đâu đến thế? ông hỏi.
Có khoảng hai chục người trong quán ăn Malfa.
“Đục nước béo cò”. Đó là những gì ong chủ nói, ban sáng, khi trời đen kịt. Và sáng hôm đó, quả thực, phòng kín người.
Tuy vậy, không còn nhiều dân sống trên đảo. Vài chục năm trở lại đây, dân số đảo đã giảm xuống sáu lần. Người ta đi cả chuyến tàu chat ních đến châu Mỹ hoặc châu Úc để làm giàu. Để lại phía sau những ngôi làng ma.
– Chúng tôi tìm thấy cô ấy bên đường đá phía trên bãi Scario.
Đó là Pippo Troisi. Anh ta không phải dân chài. Anh ta trồng bạch hoa và một luống nho. Tuy nhiên, người ta thuê anh những ngày gió lớn để làm thuyền nặng hơn.
Người phụ nữ, anh ta là người đầu tiên nhìn thấy cô ấy và đó đã trở thành chuyện của riêng anh ta. Niềm tự hào trong đời anh ta. Thỉnh thoang anh ta lại liếc ánh mắt sở hữu về phía sân khấu nhỏ, nơi có bóng người đang nhập vai đằng sau tấm ga.
– Nhưng cô ấy từ đâu đến nhỉ? Tonino nhắc lại.
– Chẳng ai biết cô ấy, Pippo trả lời.
Lời khẳng định này khiến tất ca chìm trong im lặng một lúc lâu. Trên đảo, mọi người biết hết nhau. Và nếu có gặp một vài thủy thủ nước ngoài trên cảng, thì cũng chưa bao giờ gặp một phụ nữ lạ, rất đẹp, trên con đường vách đá.
– Cô ấy phải được lau khô vào đấy, Pippo nói thêm. Có lẽ cô ấy đã ở rất lâu dưới mưa.
– Thế rốt cuộc, cô ấy từ đâu đến vậy? người chủ quán vừa nhìn cái ly của mình, vừa lẩm bẩm.
Lúc này, gió đang thổi sáo cùng lò sưởi.
– Cô ấy đến tư biển cả, một giọng nói cất ra từ đằng sau tấm ga trả lời.
Đó là Carla. Cô ngó đầu ra để nói:
– Người phụ nữ này, chị ấy bị ướp muối như thùng nụ bạch hoa của anh ấy, Pippo Troisi ạ.
Họ im lặng nhìn nhau. Biển cả đã mang đến cho họ tất cả, biển nuôi sống họ, đôi khi giết chết họ, biển mang đến cho họ những điều bất ngờ, một con cá ông mắc cạn, xác thuyền đắm, hay như bảy thùng chuối rơi xuống từ một con tàu hè năm ngoái, nhưng chưa bao giờ biển ném một người phụ nữ như ném một con cá chuồn ngang chừng vách đá trên bãi Scario như vậy.
– Cô ấy mở mắt rồi này!
Mọi người nhào đến. Carla và em gái không cho họ đến gần, họ chắc chắn không dám tiến thêm nữa.
Lúc này, người phụ nữ được đắp một lớp khăn san và chăn nặng trịch. Hai cô gái đã làm tốt công việc. Người phụ nữ còn kín hơn cả nữ tu. Không có lấy một chút da thịt nào bị lộ ra ngoài. Cả tóc cũng được cuộn trong một mảnh vải. Mọi người chỉ nhìn thấy khuôn mặt cô gái, gáy tựa trên một cái gối bằng len.
Cô ấy không quá trẻ như mọi người tưởng. Tuy nhiên, cái lạnh dường như để lại trên khuôn mặt cô một lớp trang điểm dạ hội: nước da xanh xao, môi sẫm, mắt phấn. Khi được sưởi ấm, má cô ửng phấn hồng. Cô mở mắt thật lâu rồi nói duy nhất một từ:
– Vango.

Người ta tìm thấy cậu bé con, một giờ sau, giữa hai mỏm đá trên bãi biển. Cậu bé chừng hai, ba tuổi gì đó. Cậu tên là Vango. Cậu mặc một bộ pyjama bằng lụa xanh lam. Những lọn tóc xoăn xõa trên mắt. Cậu không có vẻ hoảng sợ. Cậu nắm trong tay một chiếc khăn mùi soa thêu đã bị vo tròn. Cậu nhìn tất cả nhưng người đang vây quanh mình.
Vango.
Người phụ nữ đã tả chính xác cái nơi cậu được cất giấu.
Để dịch được lời giải thích của cô gái, người ta đã mời bác sĩ đến.
Vị này nghiêng người, lắng nghe cô thì thào vài từ.
– Cô ấy nói tiếng Pháp, ông nói một cách nghiêm trọng như thể vừa chẩn đoán được bệnh bạch cầu.
Người ta nghe thấy tiếng thì thào đầy tự hào. Ai cũng biết ông bác sĩ, rất hay ba hoa về những chuyến đi trước đây của mình, đang thao thao bất tuyệt về nước Pháp.
– Cô ấy kể gì mới được chứ?
Dường như bác sĩ Basilio có đôi chút ngượng ngùng. Trên thực tế, chưa bao giờ ông ấy đi quá Naples. Hiểu biết về tiếng Pháp của ông khá mù mờ, ngay cả khi ông thường dạo chơi với tờ Rạng đông số cũ rích và thốt lên “A! Paris, Paris…” khi xem những bức ảnh mốt thời trang.
Huy động tất cả vốn hiểu biết của mình, ông đang cố gắng hiểu.
– Cô ấy cũng nói cả những thứ tiếng khác nữa. Lẫn lộn như sau vụ tháp Babel vậy.
Lần này, ông không nói dối. Trong cơn mệt mỏi kiệt quệ, người phụ nữ lẫn lộn nhiều ngôn ngữ mỗi khi dùng sang từ khác.
– Đấy, đấy là tiếng Hy Lạp, bác sĩ nói.
– Thế nghĩa là gì cơ chứ?
– Có nghĩa là cô ấy đang nói tiếng Hy Lạp chứ còn gì nữa.
Tất cả mọi người đều ngưỡng mộ lập luận đó.
Cuối cùng, mọi người phát hiện ra cô nói cả tiếng Ý. Nhẹ người, bác sĩ bắt đầu hỏi han. Rốt cuộc, ông chỉ nhắc lại bằng tiếng Sicile những gì cô gái thì thào bằng tiếng Ý khá chuẩn mà ai cũng hiểu.
Người phụ nữ và đứa trẻ đã bị thủy triều ném lên bãi đá cuội cùng với một mẩu ván xà. Cô giấu cậu bé đi, rồi ngược lại đường mòn bên trái vịnh đi tìm sự giúp đỡ. Cô quỵ ngã trên đường.
Lúc này, cô đang ngồi trên một chiếc ghế bành, còn Vango nép vào người cô.
– Con chị đấy à? bác sĩ lắp bắp mãi mới hỏi được.
Cô gượng cười. Cô đâu còn tuổi để có một đứa con lên ba.
Ông bác sĩ lắc đầu, hơi xấu hổ vì câu hỏi của mình. Mọi người vẫn biết ông đang độc thân, nhưng cái nghề chắc hẳn đã dạy ông về quá trình phát triển cơ thể con người.
Để bớt phân tán, và vì ai cũng hiểu những gì người phụ nữ nhớ ra và kể lại, bác sĩ Basilio bắt đầu nhắc đi nhắc lại hai từ tiếng Pháp duy nhất mà ông thuộc:
– Cô nhớ chứ, cô nhớ chứ…
Ông nói điều đó như một lời năn nỉ, người nghiêng về phía cô.
Ngôn ngữ của người khác là bài hát kỳ lạ mà ta bắt chước giai điệu trước khi hiểu lời. Khi nghe những từ đó được thốt ra bằng tiếng Pháp, đám công chúng ít ỏi rất thích thú. Họ không biết điều đó có nghĩa gì, nhưng họ đều quay sang nhau và nói “cô nhớ” với giọng điệu cực kỳ ngộ nghĩnh.
Trong quán ăn, ai cũng tập trung mơ màng về hai từ này.
– Cô nhớ chứ, một người phụ nữ chớp chớp mắt nói với người đàn ông của mình.
– Cô nhớ chứ!
Sự ồn ào tăng lên.
– Cô nhớ chứ, Pippo Troisi vừa nâng ly vừa hét to.
Bác sĩ tàn nhẫn cắt đứt trò chơi:
– Im hết đi!
Lớp học im lặng.
Bác sĩ còn dịch thêm lần nữa sang ngôn ngữ Sicile những gì mà ai cũng hiểu rất rõ:
– Cô ấy chẳng biết gì cả. Cô ấy không biết mình từ đâu đến và sẽ đi đâu. Cô ấy nói cô ấy tên là Cô, cô ấy chỉ biết đứa trẻ tên là Vango. Thế thôi. Cô ấy là bảo mẫu của thằng bé.
Ông nói từ “Cô” bằng tiếng Pháp.
– Cô ấy sẽ làm gì đây? một trong hai cô con gái của chủ quán hỏi.
Người phụ nữ thoát chết trả lời vài từ, đôi mắt rối bời.
Bác sĩ nhắc lại:
– Cô ấy không biết. Cô ấy muốn ở lại đây. Cô ấy sợ.
– Nhưng cô ấy có thể làm được gì ở đây cơ chứ? Đứa trẻ này, nó còn bố mẹ ở đâu đó chứ. Cô ấy phải lên tàu trở về nước mình chứ!
– Nước nào? vị bác sĩ nổi xung.
– Thì ông chẳng bảo cô ấy nói tiếng Pháp còn gì.
– Cô ấy nói cả tiếng Anh nữa. Và nói một câu bằng tiếng Hy Lạp. Vậy, đất nước của cô ấy ở đâu?
Như để làm rối tung mọi manh mối, người phụ nữ lại thốt ra vài âm thanh.
– Đấy, tiếng Đức đấy, bác sĩ nói.
Cô còn lắp bắp gì đó nưa.
– À đấy, tiếng Nga.
Cậu bé nắm chặt chiếc khăn mùi soa. Người ta nhận ra trên nền xanh lam tối có một chữ V lớn thêu bằng chỉ vàng.
V như là Vango.
Nhẹ nhàng cầm bàn tay nhỏ bé ấy trong tay mình, bác sĩ mượn được chiếc khăn mùi soa quý giá ấy một lúc. Người ta có thể đọc được, phía trên chữ V màu vàng, có lẽ là họ của cậu bé: ROMANO.
– Đó là một cái họ của nước ta đấy chứ, Carla nói.
– Vango Romano, cô em gái nói.
Và, cao hơn, trên diềm chiếc khăn mùi soa, bác sĩ đọc mà chẳng hiểu những từ tiếng Pháp bí ẩn, được thêu chữ nhỏ màu đỏ: “Có biết bao vương quốc không biết đến chúng ta”.
Ông đọc lại, chậm chạp như một đứa trẻ đang học bảng chữ cái:
– Có biết bao… vương quốc… không biết đến chúng ta…
Quán ăn im phăng phắc.
Như chim săn mồi tí hon, bàn tay Vango tóm lấy mảnh vải và cất biến nó đi.
– Lạy Chúa tôi, một người phụ nữ thở dài.
– Chúng ta đã không ra khỏi quán, Tonino kết luận.

Một người đàn ông vừa bước vào. Hắn ngồi xuống một góc, cởi chiếc áo khoác da ướt sũng ra, gọi rượu vang Malvoisie và bánh ngọt. Mái tóc dài bết lại do nước mưa, dính sát sau đầu.
– Trả tiền trước đã, chủ quán nghi hoặc đáp.
Người đàn ông tên là Mazzetta. Ai cũng biết hắn. Hắn sống cùng con lừa của mình và chắc chắn chẳng có tiền mua nổi rượu vang và bánh ngọt ngoài những dịp Noel và lễ Phục sinh. Tonino dè chừng.
– Trả tiền trước đã nào!
Người đàn ông nhìn chủ quán.
Hắn đẩy một đồng bạc mới tinh lên mặt bàn.
Người chủ cầm nó lên ngắm nghía.
– Cậu bán lừa rồi à, Mazzetta?
Lẽ ra Mazzetta đã đập vỡ cái bàn. Móc Tonino lên xà bep cùng với tỏi và jambon.
Nhưng hắn nhìn thấy cậu bé trong bộ pyjama xanh lam.
Cậu bé nhìn hắn. Cậu bé tì má lên vai cô bảo mẫu, nhìn hắn như thể đã quen vậy.
Mazzetta để mặc người chủ quán bỏ đi. Hắn không thể chống đỡ lâu ánh mắt của Vango. Hắn cúi đầu, rồi lại từ từ ngẩng lên. Rồi, anh phát hiện ra Cô.
Khi Mazzetta nhìn thấy Cô, khi đôi mắt ngầu đỏ của hắn chìm trong đôi mắt xanh biếc của Cô, hắn bất động.
Hắn biến thành một khối đá.
Dung nham của Stromboli đổ ra biển.
Lần đầu tiên kể từ khi được mang về đây, Cô bật khóc.
Mazzetta đẩy ghế và quay mặt vào tường.
Trừ Vango, không ai nhận ra cuộc trao đổi ánh mắt kỳ kạ này. Họ chỉ nhìn thấy nước mắt lăn trên má Cô. Nên làm gì với người phụ nữ và đứa trẻ đây? Đó là câu hỏi duy nhất được đặt ra.
– Anh có thể đưa họ về nhà mình được không, Pippo Troisi?
Pippo đang ăn một chiếc nem rán to, dày như bàn tay mà anh ta lôi ra từ chiếc khăn mặt. Suýt nữa anh ta bị nghẹn.
– Nhà tôi á?
– Thì trong lúc đợi tìm giải pháp…
Pippo muốn nói ừ lắm chứ. Đó là nhiệm vụ của anh ta, người đã nhìn thấy họ trước tiên. Một tia kiêu hãnh vụt sáng trong mắt anh ta. Thế nhưng trí nhớ trở lại ngay lập tức. Pippo Troisi không phải là người chủ trong nhà mình.
– Vấn đề, đó là…
Giuseppina. Anh ta không cần nói hết câu. Tất cả đều biết rằng vấn đề đó chính là vợ anh ta.
Giuseppina bao bọc chồng mình đến nghẹt thở. Với người khác, cô ta cởi mở như một con ngỗng cái bảo vệ ổ trứng của mình. Không bao giờ có chuyện cô để một người phụ nữ và một đứa trẻ lảng vảng đến gần cái tổ của mình.
Có thể chính vì vợ mà gã nông dân Pippo mơ ước trở thành thủy thủ. Có những người trên mặt đất khiến ta muốn ra khơi thật xa và đặc biệt là thật lâu.

Không ai nhớ chính xác thế nào mà cuối cùng Vango và Cô lại đến ở nhà Mazzetta lầm lì.
Tuy nhiên, khi Mazzetta đứng dậy nói: “Tôi có thể lo cho họ”, tất cả đều lộ vẻ kinh ngạc. Cô ôm chặt cậu bé trong tay. Cô lắc đầu mà không thể thốt được lời nào.
Ngôi nhà của Mazzetta được ghép từ hai hình lập phương màu trắng đặt trên miệng núi lửa Pollara đổ ra biển. Một cây ô liu mọc lên giữa hai khối trắng ấy. Những ngôi nhà khác của thôn Pollara đã bị bỏ hoang từ lâu nay.
Vango và Cô đến đó ở.
Mazzetta lánh sang chuồng lừa, cách đó trăm mét. Đúng hơn là một hang đá, phủ rơm, khép kín bằng một bức tường đá. Như để cảm ơn chú lừa đã nhường một chỗ nhỏ cho mình, Mazzetta làm cho nó cái lục lạc thật đẹp bằng gỗ và da, khiến nó cứ phai nghiêng đầu.
Kể từ hôm đó và cho đến lúc chết, Mazzetta không đặt chân vào căn nhà cũ của mình lần nào nữa. Kể từ hôm đó, Mazzetta khốn khổ nuôi sống được hai con người mà hắn cưu mang bằng cách, mỗi tuần trăng mới đến, hắn lại đặt một đồng bạc trên ngưỡng cửa nhà họ. Kể từ hôm đó, Mazzetta hung dữ trở nên hiền lành hơn cả con lừa của mình, con lừa mà hắn gọi là Tesoro và nhiều người bắt gặp hắn đang khóc trước biển.
Trong suốt những năm tiếp theo, hắn không được nói chuyện cũng chẳng được nhìn Cô lấy một lần.
Một giao ước khó hiểu gắn kết hai con người đó. Một giao ước không lời. Một giao ước trong im lặng.

Vango tiếp tục đi trên sườn dốc nui lửa đã tắt.
Cậu tìm thấy ở đó những gì cậu cần.
Cậu lớn lên cùng ba bảo mẫu: sự tự do, nỗi cô đơn và Cô. Cả ba người bảo mẫu này cùng dạy dỗ cậu. Cậu nhận từ họ tất cả những gì cậu cho là có thể học được.
Lên năm, cậu biết năm ngôn ngữ nhưng chẳng nói chuyện với ai. Lên bảy, cậu leo vách đá mà không cần đến bàn chân. Lên chín, cậu nuôi chim ưng, chúng sà xuống cậu để ăn những thứ trên tay cậu. Cậu ngực trần ngủ trên mỏm đá với một chú tắc kè trên ngực. Cậu huýt sáo gọi lũ chim nhạn. Cậu đọc những cuốn tiểu thuyết Pháp được cô bảo mẫu mua cho cậu ở Lipari. Cậu trèo lên phía trên núi lửa để gội tóc trong mây. Cậu ngân nga những bài hát ru của Nga cho lũ bọ hung nghe. Cậu nhìn Cô tỉa rau củ thành những cạnh tuyệt đẹp, giống như tạc kim cương vậy. Rồi cậu nghiến ngấu những món ăn tuyệt vời của Cô.

Suốt bảy năm trời, Vango cứ ngỡ không cần gì khác ngoài sự dịu hiền của Cô, ngoài thế giới hoang dã trên đảo, mặt trời và cái bóng của ngọn núi lửa.
Nhưng những gì xảy đến khi cậu mười tuổi đã làm thay đổi mãi mãi cuộc đời cậu. Chính vì khám phá này, hòn đảo bỗng nhiên dường như quá nhỏ bé. Với cậu, nó như một đám cháy dưới biển.
Trong mắt cậu, thế giới đã đổi màu.
Khi đặt chân trở lại thiên đường bé nhỏ của mình, cậu không thể không nhìn, phía bên kia những vách đá, núi đá xa nhất, chân trời và bầu trời.