[Trích đoạn] Vango – Phần I, Chương 7

Posted on 01/02/2013 bởi

0


4552van-go-1


  ZEFIRO

Đó không phải sào huyệt của bọn cướp biển, đó là một khu vườn. Một khu vườn tuyệt đẹp giữa chốn hoang vu trên đảo.

Ngay phía dưới Vango, bãi thung võng xuống giống như lòng bàn tay. Một khối kiến trúc huyền bí bằng đá bao quanh quần thể thực vật trù phú. Hơi nước màu xanh bao trùm thiên đường khép kín này. Sức nóng mặt trời khiến đất vườn bốc khói.

Vango chưa bao giờ nhìn thấy hay mơ đến một nơi như thế. Cậu thường có cảm giác mình được sinh ra giữa hai hòn đá cuội và chẳng biết gì ngoài đám đậu kim, cỏ khô và lũ gai xương rồng vợt. Nhưng ở nơi đây, những bờ rào um tùm xen kẽ những ô vuông được tỉa tót kỹ càng, những luống rau tô điểm trên nền đất đen và những ngôi nhà gần như vô hình, khuất sâu dưới tán cọ. Hai ngọn tháp thấp bé giống như hai núi đá được đặt cân bằng giữa một miền xanh ngắt.

Ấy vậy mà không hề có bóng dáng con người trên các lối đi trong vườn, không một con người, không một giọng nói. Không một dấu vết nào của bọn cướp biển vơi những ngón tay xanh biết làm đá nở hoa.

Vango quyết định lợi dụng khi chúng vắng mặt để xuống quan sát cận cảnh nơi ở của bọn chúng.

Chúng nhốt Pippo Troisi ở đâu không biết?

Vango lập tức nhận ra hương hoa nhài và tiếng nước chảy. Đây chính là nơi người ta dẫn cậu đến trong khoảng thời gian khó hiểu ấy. Lúc đó, cậu không thể nhìn thấy quang cảnh nhưng mùi hương và tiếng động vẫn đọng mãi trong ký ức cậu.

Vango luồn dưới đám cây chanh, khom lưng, bước dọc hàng rào cà chua chín muộn. Một bầu không khí tươi mát đến kỳ lạ lan tỏa khắp các lối đi trong khu vườn. Nước ở khắp nơi. Nước chảy qua ống gỗ rỗng, dừng ở bể đá, rồi leo dọc các bánh xe bằng sậy nhờ sự kỳ diệu của cơ chế vận hành, và tỏa đi bằng vô số ống nhỏ mỏng và rộn rã hơn.

Vango không thể tin vào những gì cậu đang trông thấy. Hòn đảo Alicudi này bị bỏ hoang vì không có nước, không có cảng an toàn, vì không co thứ gì mọc được ở đây và thậm chí vì đến cả la cũng chết do nắng và buồn chán. Vậy mà Vango lại đang phát hiện ra một nơi hiền hòa, ướt át và um tùm cây cối hơn tất cả những gì cậu có thể hình dung ra.

Pippo Troisi đang ở một mình, ngồi trên ghế, đang chăm chú rút sợi mắt của một tấm lưới lớn phủ hết người anh. Vango bắt gặp anh ta ngồi phơi nắng, trên một khoảnh đất lát đá cuội. Troisi rất tập trung vào công việc của mình, thỉnh thoang anh lại dùng răng để kéo sợi.

Nằm trên đất, Vango nhìn anh ta, ngán ngẩm với số phận của người đàn ông vẫn mơ đến tự do ở Zanzibar giờ phải sống như chim trong lồng dưới tấm lưới đánh cá kia. Cậu bắt đầu bò giữa đám hương thảo, rồi chui ra khỏi chúng, bụng vẫn áp sát lên con đường đá.

– Signor Troisi…

Người đàn ông không nghe thấy. Vango tiếp tục tiến lên. Pippo Troisi hầu như quay hẳn lưng lại với cậu.

Đây là lần thứ hai Vango cố cứu sống anh ta. Trong vườn vẫn yên tĩnh nhưng Vango lại hoài nghi. Cậu biết người ta không bao giờ để tù binh ở một mình quá lâu. Bọn cướp biển sẽ quay lại. Cần phải ra tay gấp.

Thoạt tiên, Troisi nhận thấy tấm lưới đang tuột khỏi tay mình. Hai lần, anh muốn nắm lấy nó nhưng tấm lưới tuột quá nhanh.

– Ê!

Cuối cùng, anh ta găm bàn chân vào giữa mắt lưới để giữ nó lại. Một cái giật nhanh và mạnh khiến tấm lưới bằng gai dầu đứt và văng đi.

– Đây mà! Lại đây mà…, một giọng nói thì thầm.

Pippo Troisi quay lại và phát hiện ra Vango đang ở dưới chân mình.

– Chú đừng sợ, chúng ta sẽ cùng nhau trốn thoát…

– Cậu làm gì ở đây vậy?

– Cháu sẽ giúp chú.

– Không đâu, Vango.

– Chú lại đây, Signor Troisi, chú lại đây nào…

Troisi co quắp trên ghế như thể đang tìm kiếm sự giúp đỡ.

– Đi đi, Vango!

– Chú can đảm lên, cháu đến tìm chú mà.

Vango tóm lấy cổ tay anh ta và không thả ra nữa.

– Kệ tôi! Cậu về nhà đi! Pippo nói.

Nỗi sợ hãi làm khuôn mặt anh ta méo xệch.

– Thôi ngay, Vango!

Nhưng cậu bé đã quyết cứu Pippo Troisi cho dù anh ta có muốn hay không. Cậu dùng hết sức để kéo anh ta.

– Không bao giờ, Pippo kêu lên, không bao giờ!

Rồi, bằng bàn tay kia, Pippo vớ lấy lưng ghế, đắn đo một tích tắc, cảm thấy có lỗi, rồi, nhắm mắt lại để không phải trông thấy cảnh tượng đó, anh ta phang chiếc ghế lên người Vango.

– Xin lỗi nhé, cậu bé. Tôi đã bảo cậu rồi mà. Tôi đã ngăn cậu rồi mà.

Pippo nhặt ghế lên. Anh ta run rẩy ngồi xuống và nhìn Vango lăn đùng ra đất bất tỉnh.

– Không bao giờ…, anh ta nhắc lại. Sẽ không bao giờ có ai kéo được tôi ra khỏi đây đâu.

Nỗi sợ hãi duy nhất luôn ám ảnh anh ta là một ngày nào đó phải từ giã nơi này.

Pippo gập tấm lưới đang sửa lại. Anh ta làm thành cái đệm rồi đặt Vango lên đó. Anh lôi từ thắt lưng ra một cái khăn lau, đi dấp nước ở vòi, chỗ những cây cói giấy vươn cao và trở lại đặt lên trán cậu bé.

– Tôi có muốn đánh đâu cơ chứ.

Anh ta đang nghiêng người về phía Vango thì cảm nhận như ai đó ở sau mình.

Pippo Troisi quay người lại và nói gần như khóc:

– Thưa linh mục… Ôi, thưa linh mục! Hãy tha lỗi cho con, con cho là mình đã làm cậu ấy đau mất rồi. Con đã phang vào đầu cậu ấy.

Nhưng chính cậu ấy khơi mào… Con muốn ở lại đây, con xin cha. Cha sẽ nói với cậu ấy con muốn ở lại đây chứ?

Linh mục Zefiro không phải cướp biển.

Đó là một vị thầy tu bốn mươi hai tuổi.

Ông cao một mét chín mươi và mặc chiếc áo chùng bằng len bua trông còn đẹp hơn cả tài tử điện ảnh. Đi cùng ông còn có bốn vị thầy tu khác, đội mũ choàng, gương mặt rám nâu vì nắng. Họ đều đeo bên mình những chiếc giỏ đan bằng liễu đựng đầy cá tươi.

– Cậu ấy đã trở lại, linh mục vừa nói vừa nhìn Vango.

– Trực tiếp và không dừng lại, Pippo trả lời, anh ta đã nghe câu này từ miệng Zefiro và bắt đầu sử dụng nó mười lần mỗi ngày vì sùng kính con người vĩ đại này.

– Cậu ấy đã trở lại…, linh mục nhắc lại.

Người ta nhận ra không ít vẻ hiếu kỳ trên khuôn mặt ông.

– Đưa cậu ấy đến chỗ thầy dòng Marco, ở trong bếp, ông nói với Pippo. Bảo anh ấy đổ dầu lên đầu cậu ta.

Pippo giật nảy mình.

– Cha… Cha sẽ…

– Chuyện gì vậy, người anh em? Zefiro hỏi, rồi bước đi.

– Cha sẽ ăn thịt cậu ta ư?

Zefiro dừng lại. Cha thật hiếm khi cười.

Khi cha cười, nụ cười của cha thật sự tỏa sáng.

– Đúng, ông trả lời. Trực tiếp và không ngừng.

Thực ra, Marco, thầy dòng nấu bếp, có chút hiểu biết về nghề y. Anh ta chăm sóc cái đầu cua Vango với tinh dầu long não và đặt cậu gần lò nấu cho ấm.

Lúc này, Zefiro đang đứng trong phòng mình. Các vị tu sĩ sống dọc khu vườn, trong những căn phòng nhỏ bé. Trống trơn, chỉ có cái nệm rơm cuộn để một góc, các phòng chỉ để hở một khe ngang suốt chiều dài bức tường làm cửa sổ. Zefiro nhìn qua cái khe mở trong đá, ngang tầm mắt ông.

Ông tự hỏi sẽ làm gì với vị khách bé nhỏ đang làm đảo lộn cuộc sống của tu viện.

Arkudah là công trình của Zefiro.

Ông gọi đó là tu viện vô hình.

Ba mươi tu sĩ sống ở đó, bàng quan với thế giới, quanh vị linh mục từ năm năm nay. Thời gian đầu, họ tự tay xây dựng nhà ở và vườn tược, họ tự cung tự cấp về nước và lương thưc… Và rồi, cuộc sống của cộng đồng này bắt nhịp cùng tất cả các tu viện khác. Công việc, đánh cá, cầu nguyện, đọc sách, vườn tược, bữa ăn, giấc ngủ cứ thế tuần tự theo giờ suốt ngày đêm, theo một trật tự nghiêm ngat. Đó là chiếc đồng hồ sinh học điều độ, dường như không thể ngừng nghỉ.

Vango là một hạt cát trong cơ chế đó.

Sự tồn tại của tu viện vô hình không được ai biết đến ngoài Đức Giáo hoàng, người đã động viên Zefiro xây dựng nó và khoảng chục mối liên hệ với đất liền và toàn thế giới.

Bí mật này là vấn đề sống còn đối với Zefiro và các vị thầy dòng.

Sự xuất hiện của Pippo Troisi lẽ ra cũng là điều đáng lo ngại nhưng, sau khi nghe lời trần tình dài dằng dặc của anh ta, tu viện quyết định giữ anh ta lại. Chân dung người vợ mà anh ta vẽ ra, cô ả Giuseppina ghê gớm, đã khiến tất cả thầy tu vô hình run lên vì sợ và buồn cười.

Họ gán cho Pippo danh hiệu “ông chồng tị nạn” và coi anh ta như một kẻ chết đuối vớ được cọc.

Khi biết mình được ở lại, Pippo nhảy cẫng lên vì vui sướng. Anh ta có cảm giác như đã lên đến thiên đường. Trực tiếp và không ngừng.

Thế nhưng, ngày đầu tiên của Pippo Troisi suýt nữa trở thành ngày tồi tệ. Anh ta liều không đi lễ xem sao.

Lúc anh ta hãy còn ngủ, sáu rưỡi sáng, Zefiro từ nhà thờ bước ra, múc đầy xô nước ở bể rồi đổ ụp lên đầu con người tội nghiệp mới đến.

– Dậy muộn quá nhỉ, người anh em Pippo?

Ngay ngày hôm sau, Pippo, vốn chưa bao giờ đặt chân vào nhà thờ, trước năm giờ sáng đã đứng trên ghế cầu kinh, vẻ mặt tĩnh tại, hai bàn tay đan vào nhau. Zefiro rất thích như vậy. Ông thích thú nhìn anh ta mấp máy môi theo những bài thánh ca tiếng Latinh làm như mình cũng thuộc. Pippo lẩm nhẩm, dưới lớp râu, những bài ca ra khơi không thật sự mang tính nghi lễ: Elle en a, la Graziella, la, la, lère…

Vango, ke mới đến, khiến linh mục lo ngại hơn nhiều.

Từ ba ngày nay, Zefiro quan sát cậu.

Vango bắt đầu bình phục và dần dần mon men ra khỏi bếp. Cậu tò mò quan sát cuộc sống của các thầy tu, theo sát nhất cử nhất động của họ. Người ta bắt gặp cậu trên mái nhà thờ lắng nghe thánh ca của buổi lễ tối.

Qua Pippo Troisi, Zefiro đã biết chuyện về Vango, về nguồn gốc bí ẩn của cậu và sự tồn tại của cô bảo mẫu. Tất cả những điều đó khiến ông quan tâm.

Ông không thể để một đứa trẻ ở lại trong tu viện.

Nhưng làm thế nào để cậu ta giữ bí mật về Arkudah khi ra khỏi những bức tường kia?

Zefiro không nghe thấy tiếng gõ cửa. Marco, thầy dòng nấu bếp bước lại gần ông.

– Thưa linh mục.

Ông sực thoát khỏi dòng suy nghĩ của mình.

– Có chuyện gì?

Cuộc hội thoại sau đó giữa hai người đàn ông tu hành có lẽ sẽ khiến các vị thần bản mệnh của họ phải thẹn đến đỏ mặt.

– Tôi đã tìm thấy nữ chúa cho cha rồi, thầy dòng nấu bếp nói.

– Nữ chúa cho ta…

Zefiro cẩn thận khép cửa lại.

– Thật ư? Anh tìm thấy nữ chúa cho ta rồi ư?

– Tôi tin là mình đã tìm thấy nàng, thưa cha.

Zefiro chống tay lên tường. Ông dường như bị mất thăng bằng.

– Anh tin ư? Anh chỉ tin thôi ư?

Thầy dòng vừa ấp úng vừa vặn vẹo cặp kính rệu rã của mình:

– Tôi tin là…

– Tin thôi thì không đủ! Zefiro nói.

Từ miệng một người đã chọn con đường tin Chúa thì câu nói đó đúng là một sự sơ sẩy. Zefiro ý thức được điều đó. Ông cố gắng bình tĩnh lại trước khi thần bản mệnh nổ tung ngay trên lưng mình.

– Anh biết đấy, Marco…, ông tiếp tục.

Họ nói hầu như rất nhỏ.

– Ta tìm kiếm nữ chúa từ lâu lắm rồi…

– Tôi hiểu, thưa cha. Thế nên tôi mới nói với cha điều đó. Tôi tin… Tôi nghĩ nàng có thể đến đây với chúng ta trong vài ngày nữa nếu cha muốn.

Lần này, Zefiro trở nên tái nhợt. Ông cười.

– Trong vài ngày nữa… Nữ chúa của ta, lạy Chúa tôi! Nữ chúa của ta!

– Có một điều kiện.

– Hả?

– Cha phải để đứa bé đi.

Zefiro trừng trừng nhìn thầy dòng Marco và cái mặt khỉ tinh quái của anh ta.

– Đứa bé ư?

– Đúng, thằng nhỏ Vango. Ngay hôm nay.

Zefiro giả vờ như đang phải cố gắng lắm. Nhưng thực ra, ông đã sẵn sàng cho mọi chuyện.

– Đây là một lời đe dọa?

– Gần như vậy.

– Đồng ý thôi. Thằng bé sẽ đi.

– Và rồi… Cha hãy để cậu ấy quay lại.

Linh mục Zefiro giật nảy mình.

– Gì cơ? Anh điên à?

– Không có Vango thì không có nữ chúa.

– Anh điên à, người anh em?

– Tôi không điên. Chính Vango biết nàng đang ở đâu. Chính cậu ấy sẽ mang nàng đến.

Cuộc đối thoại giữa hai thầy tu đã đến mức này rồi thì chỉ còn một cách duy nhất vực thần bản mệnh của họ dậy, những vị thần sững sờ, lăn quay ra đất ngất xỉu, vầng hào quang xộc xệch.

Chỉ cần cho họ vài lời giải thích sau đây mà thôi.

Zefiro, người đã trở nên cực kỳ đung mực, vẫn giữ một cái tật ngầm, một nỗi đam mê điên cuồng và không giới hạn. Từ nhiều năm nay, ông có một đội cướp biển nữ, trẻ và khỏe phục vụ mình, ông sai họ đi cướp bóc những đảo khác trong quần đảo.

Buổi toi, họ trở về, run rẩy, chất đầy vàng và mứt kẹo, rã rời vì những chặng đường đã đi qua, và đổ đầy chiến lợi phẩm trước mặt ông chủ họ.

Những nữ cướp biển ấy là những nàng ong.

Zefiro là người nuôi ong.

Ngày đầu tiên lên đảo, ông làm năm cái tổ ong. Những nàng ong lang thang kín đáo vỗ về ông bằng những chuyến đi mà ông không còn thực hiện được nữa từ khi một bí mật buộc ông phải xây dựng nên tu viện vô hình này và ở lại đó mai mãi cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.

Suốt nhiều năm, song song với cuộc sống thầy tu, Zefiro còn là thủ lĩnh của băng nhóm đó, gặp gỡ những nàng ong vào mỗi buổi sáng và buổi tối khi chúng xong nhiệm vụ trở về. Nhưng vài tháng trước, chúng bị chết hết, một trận bão cuối hè đã cuốn chúng đi. Zefiro che giấu vẻ suy sụp của mình và thậm chí còn vực dậy tinh thần cho thầy dòng nấu bếp khi anh này đau khổ vì từ nay không còn mật ong trang và món bánh mì phết mật nữa.

Từ sau thảm họa đó, Zefiro muốn tìm một nữ chúa. Ông cần một con ong chúa để lôi kéo đàn ong mới và tái tạo những tổ ong.

Ở trong bếp, Vango đã nghe thấy lời than vãn của thầy dòng Marco. Cậu nói với người nấu bếp rằng cậu biết ít nhất ba hay bốn tổ ong trên những vách đá đảo Salina. Cậu có thể dễ dàng tìm ra một con ong chúa để tái sinh trại ong Arkudah.

Thú thật, nếu người ta yêu cầu cậu một con kangourou hay một quả dừa thì Vango cũng sẵn sàng hứa hẹn đáp ứng. Cậu có thể bịa ra bất cứ cái gì để được trở về. Tuy vậy, lần này, cậu không nói dối. Cậu rất thân với lũ ong như với bất kỳ sinh vật nào khác trên đảo.

Đối với cậu, thách thức này dường như quá trẻ con.

Ngay ngày hôm sau, người ta cho cậu mượn một trong những chiếc thuyền được các tu sĩ giấu trong hang sâu mấp mé mặt nước bên vách đá phía Tây hòn đảo. Vango đi bốn ngày và trở lại cùng hai con ong chúa, diêm, bánh ga tô và thịt bò. Các thầy tu hồ hởi đón tiếp cậu hơn cả đón tiếp một nhà tiên tri.

Tối hôm đó, quanh món ra gu làm theo kiểu của Cô để thết đãi tu viện, cậu nhận ra rằng mình đã được tự do. Tự do đi và tự do trở lại, vô hình giữa những người vô hình.

Giờ đây, cậu san sẻ thời gian giữa một bên là cuộc sống hoang dã trên đảo, lòng nhiệt tình và kinh nghiệm sống của Cô, một bên là bí ẩn lớn của tu viện vô hình nơi cậu ngày càng năng lui tới. Cậu sống cuộc sống của kẻ buôn chuyến giữa hai hòn đảo, tức là cung cấp cho Zefiro những gì ông thiếu, gửi hộ ông rất nhiều thư tại bưu điện Salina, và ngược lại cậu nhận được sự đón tiếp nồng hậu của cả tu viện.

Vango nhìn cuộc sống của các tu sĩ và cố gắng hiểu. Cậu tìm kiếm lý do giúp họ tồn tại. Cậu còn quan sát Zefiro nhiều hơn.

Vị thầy tu và cậu bé ít nói chuyện với nhau. Tính cách sần sùi của họ rất hợp nhau. Sự va chạm của hai hòn đá rắn nhất sẽ bắn ra những tia lửa. Một tình bạn sâu sắc đã hình thành giữa họ.

Thật khó nói được làm thế nào mà vào một buổi sáng mùa hè, không ai ở Arkudah chứng kiến việc Vango đến trịnh trọng thông báo với cha Zefiro, khi cậu mười ba tuổi.

– Cha, con đã suy nghĩ…

– Một tin hay đây.

– Con sẽ đưa ra một quyết định lớn.

Zefiro đang cố bắt lấy con thỏ trong khu vườn rào giậu, phía sau nhà thờ.

– Một quyết định lớn ư?

Vị linh mục cười thầm. Vango thường ra cái vẻ của một cụ già trưởng tộc người Anh điêng.

Zefiro tóm lấy phần lưng con thỏ đen. Ông nhìn Vango. Ông thích nhìn cậu bé lớn lên. Cậu là món quà tuyệt vời rơi xuống đảo của ông ba mùa thu trước. Zefiro có cảm giác khi bước vào cuộc đời họ, Vango đã làm trái đất quay thêm một phần tư vòng, để hướng về phía mặt trời.

– Kể ta nghe đi, vị linh mục nói.

– Không phải tại đây ạ.

– Lũ thỏ có tai đấy, Zefiro thì thụt như một kẻ mưu phản. Con đừng lo, con thỏ này không thóc mách được với ai điều gì đâu.

Ông ôm chặt con thỏ.

– Nói cho ta nghe điều con đã quyết định đi.

– Không phải ở đây. Quan trọng đấy ạ.

– Nói đi, cậu bé!

Vango nuốt nước bọt tuyên bố:

– Con muốn trở thành thầy tu.

Vango không nhìn thấy cơn bão đang kéo đến.

Zefiro thét lên vì tức giận. Ông quẳng con thỏ vào hàng rào lưới. Ông đá đống sọt và lắp bắp những từ tục tĩu. Ông loạng choạng, ngã lăn ra đất. Rồi, thả lỏng nắm tay, ông cố gắng bình tĩnh lại. Tay ôm trán, người bất động, ông hít thật sâu nhiều lần, rồi nói:

– Con biết gì về điều đó?

– Sao cơ ạ?

– Con có biết những gì mà con muốn làm không? Con chẳng biết gì hết.

– Con biết…

– Im đi!

Vango cụp mắt. Đám thỏ kêu rinh rích dưới núi đá.

– Ta nói là con chẳng biết gì cả!

– Con đến đây được ba năm rồi còn gì ạ, Vango thì thào.

– Thế thì sao?

Cơn giận lại dâng trào.

– Thế thì sao? Sau ba năm trong gánh xiếc, có lẽ con cũng muốn trở thành chú hề! Sau ba năm trong chuồng thỏ, chắc con cũng muốn trởthành một con thỏ! Con chẳng biết gì cả, Vango ạ! Chang gì cả! Chẳng gì cả! Chẳng gì cả!

– Con biết cha…

– Nhưng còn thế giới! Con đã biết đến thế giới chưa? Con đã thấy gì từ cuộc đời nào? Hai hòn đảo! Hai mẩu giấy bướm giữa biển khơi! Một cô bảo mẫu, vài lão đàn ông đội mũ choàng, những con thằn lằn…Cuộc sống của những con thằn lằn, Vango ạ, đó là những gì con biết! Con là một chú thằn lằn giữa đám thằn lằn.

Vango quay đi. Nước mắt lưng tròng. Cậu cứ ngỡ linh mục sẽ dang rộng vòng tay với mình.

Một chú chim nhỏ sà xuống gần vỗ về cậu.

Zefiro đến ngồi trên một hòn đá. Họ đứng nhìn mỗi người một hướng rất lâu, rồi Vango tiến đến. Cậu nghe thấy Zefiro nói với mình:

– Chúng ta phải nói lời chia tay thôi…

Lại một khoảng im lặng giữa hai người.

– Con phải đi khỏi đây, Vango, rời khỏi cả hòn đảo của con nữa. Con phải đi khỏi đây trong vòng một năm. Và sau một năm đó, nếu con muốn, hãy quay lại gặp ta.

– Con phải đi đâu mới được chứ ạ? Cậu thổn thức.

Zefiro cảm thấy có lỗi.

Đáng nhẽ ra ông không nên để cậu bé ở đây từ lâu rồi.

– Ta sẽ cho con một cái tên. Tên một người mà con sẽ thay ta đến gặp.

– Ở Palerme ạ?

– Xa hơn.

– Người ấy sống ở Naples ạ? cậu sụt sịt.

– Xa hơn rất nhiều, Vango.

– Ở một đất nước khác ạ?

Zefiro nắm lấy hai vai cậu bé ôm vào lòng.

– Ở một đất nước khác ạ? Vango nhắc lại.

– Đất nước của người ấy, đó là cả một hành tinh.