Miên man hội hè – Miên man nghĩ (tiếp)

Posted on 07/02/2013 bởi

0


a moveable feast


Không thể không nói tới câu chuyện về cái đói. Sống chỉ bằng nghề văn và sống trong lúc chưa phải là một tác giả được săn đón nên việc thường xuyên bị đói với Hemingway cũng là điều khá dễ hiểu. Vì cạn tiền và để bớt một miệng ăn, ông vẫn hay bịa với vợ rằng có người nào đó mời đi ăn trưa, rồi ra ngoài và tìm cách chiến thắng cái đói.

Phải tránh xa những con phố mà mùi thức ăn bốc lên đầy hấp dẫn. Tốt nhất là đến bảo tàng Luxembourg, vì ở đó “thanh tịnh”, cũng vì: “Với một cái bụng rỗng không, ruột trống huơ trống hoác, những bức tranh trông sẽ sắc nét hơn, rõ hơn và đẹp hơn. Tôi nghiệm thấy khi đói, tôi cảm được tranh Cezanne rõ hơn và hiểu chính xác cách ông vẽ phong cảnh như thế nào” (tr.93).

Thêm một chút tinh thần AQ khi bị cái đói hành hạ cũng không thừa: “Đói là một phương cách tốt và nó có thể dạy ta nhiều điều. Chừng nào những người khác không hiểu được điều đó thì ta vẫn còn nắm được ưu thế trước họ. Chắc chắn như thế, tôi nghĩ. Giờ thì tôi đi trước bọn họ rất xa vì tôi thường xuyên thiếu ăn” (tr.101).

Nhưng khi có điều kiện để tự cho phép mình có “một bữa no”- được nhận nhuận bút chẳng hạn- Hemingway cũng rất biết tận hưởng. Hãy đọc thử đoạn Hemingway kể về bữa ăn ngay sau khi ông được một tờ báo Đức trả nhuận bút: “Bia rất lạnh và thật đê mê. Món pommes à l’huile được ướp chắc thịt và dầu ô liu cực ngon. Tôi xay tiêu đen lên khoai tây và nhúng bánh mì vào dầu ô liu. Làm một ngụm bia lớn rồi ăn và uống thật chậm rãi. Xong món pommes à l’huile, tôi gọi thêm lượt nữa cùng một cervelas. Đó là một loại xúc xích to nặng như xúc xích Đức được chẻ đôi và dưới một lớp xốt mù tạt đặc biệt. Tôi vét sạch dầu cùng tất cả nước xốt ăn cùng bánh mì và chậm rãi uống, và khi bia không còn lạnh nữa tôi uống cạn rồi gọi thêm một demi và ngắm bia rót ra cốc. Có vẻ như bia lần này còn lạnh hơn cả distingue và tôi uống hết ngay một nửa” (tr.98).

Không ít nhà văn Việt Nam đã từng viết về chuyện ăn uống (Tản Đà, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng…) nhưng tôi thấy hiếm ai viết theo kiểu này: cái cảm giác sung sướng thỏa mãn tận độ của nhục thể khi được ăn ngon và ăn no. Có lẽ chăng, sợ bị mang cái tiếng phàm phu tục tử nên nhà văn Việt Nam khi viết về chuyện ăn uống thường nghiêng về phương diện “văn hóa nghệ thuật” của cái sự ăn; gảy gót, điệu đàng, chứ không hùng dũng khí thế như nhà văn của đất nước cờ hoa?

Và sau rốt, là câu chuyện chung về Paris, cái rốn của văn nghệ thế giới giai đoạn giữa hai cuộc Thế chiến đã được Hemingway vẽ lên khá sinh động trong “Hội hè miên man”. Vào thời đó, ít nhất là vào thời đó, những gương mặt vào loại sáng giá nhất của nền nghệ thuật thế giới đương đại đều tề tựu tại Paris. Họ đến từ khắp bốn phương trời: là người Nga, người Tây Ban Nha, người Bulgaria, người Anh, người Ailen, người Mỹ, người Tiệp, người Romania, người Do Thái v.v…

Họ đến và cùng những nghệ sĩ ưu tú của nước sở tại biến Paris thành cái chảo lửa của tinh thần sáng tạo, nơi những ý tưởng cách tân mạnh mẽ nhất, cách mạng nhất, ngông cuồng nhất được hun nóng, được tự do cọ xát đua tranh, để rồi kết quả là diện mạo của nghệ thuật trên hầu khắp các lĩnh vực phải thay đổi một cách cơ bản. Tôi không rõ vào thời điểm ấy nhà nước Pháp có chính sách gì đó để chiêu mộ nghệ sĩ nước ngoài không, hay chỉ là sức hấp dẫn tự nhiên tỏa ra từ môi trường văn hóa Paris vốn đã thừa sự nổi tiếng? Nhưng qua cách Hemingway kể về công việc của mình, rằng ông thường xuyên ngồi cả buổi để viết tại nhà hàng mà không bao giờ sợ bị kêu ca (dù chỉ dùng một tách cafe và chiếm trọn của họ một bàn); rằng ở đó có những nhân viên phục vụ hết sức ưu ái nghệ sĩ, luôn rót rượu vào ly của họ nhiều hơn mức cho phép v.v… đủ để thấy rằng Paris quả là một nơi chốn lý tưởng cho người hoạt động nghệ thuật.

Và khi Hemingway kết thúc cuốn sách của mình với những câu: “Không bao giờ có thể kết thúc với Paris và kỉ niệm của mỗi người, những ai từng sống trong thành phố này, không ai giống ai. Chúng ta luôn quay lại đó cho dù chúng ta có là ai, hay thành phố có đổi thay thế nào đi nữa, và dù có những khó khăn hay thuận lợi, thành phố vẫn trong tầm tay.

Paris luôn xứng đáng với điều đó, và ta nhận được đầy đủ cho những gì ta dâng tặng nó”, tôi chợt nghĩ tới Thủ đô ngàn năm tuổi của chúng ta. Đã có nghệ sĩ nào cỡ Hemingway viết về Hà Nội như vậy? Đã có lúc nào và tới khi nào thì Hà Nội trở thành cái rốn của văn nghệ thế giới, như Paris của Hemingway những năm 1921-1926?

Hoài Nam – CAND