[Trích đoạn] Tôi là ai và nếu vậy thì bao nhiêu (Boston)

Posted on 20/02/2013 bởi

1


toi la ai


                                                                                    BOSTON

                                                                      Người đàn ông trên cầu

                                                                             Đạo đức bẩm sinh?

Hãy hình dung ra tình huống sau đây: một toa tàu mất phanh lao vun vút về phía năm công nhân đường sắt. Còn bạn, hỡi bạn đọc thân mến, đứng ở chỗ bẻ ghi và nhìn thấy toa tàu không người lái đang lao lại gần. Nếu bạn bẻ ghi sang phải, bạn sẽ cứu được năm mạng sống trong tích tắc cuối cùng. Vấn đề duy nhất là: nếu toa tàu được lái sang phải thì nó sẽ đâm vào một công nhân đường sắt khác – tuy nhiên chỉ là một người duy nhất mà thôi. Bạn sẽ làm gì?

Từ từ đã! Trước khi trả lời, bạn hãy nghĩ kỹ một câu hỏi thứ hai nữa. Lần này cũng là một toa tàu không người lái, nó cũng lao vun vút trên đường ray về phía năm công nhân đường sắt. Nhưng lần này bạn khong đứng ở chỗ bẻ ghi, mà đứng trên cầu chạy trên cao bắc ngang đường ray. Bạn ngó quanh tìm một vật gì có thể ném xuống để chặn toa tàu lại. Và bạn không nhìn thấy gì khác ngoài một ông béo quay đứng bên cạnh. Thành lan can không cao. Tất cả những gì bạn phải làm là đẩy từ phía sau cho ông béo lộn cổ xuống và trọng lượng lớn của ông ta sẽ chặn đứng toa tàu. Năm công nhân đường sắt sẽ được cứu sống. Bạn có làm việc đó không?

Cho đến nay hơn 300.000 người đã tham gia trả lời hai câu hỏi trên. Người đặt ra câu hỏi là nhà tâm lý học Marc Hauser từ Đại học Harvard (Boston). Ông đưa thử nghiệm này lên Internet và để mọi người quyết định trực tuyến xem sẽ làm gì trong vụ toa tàu không người lái. Nhưng Hauser không chỉ hỏi những người lướt mạng. Ông hỏi ở Hoa Kỳ và Trung Quốc. Thậm chí hỏi cả dân du mục. Ông hỏi trẻ con và người lớn, người sùng đạo và vô thần, đàn bà và đàn ông, công nhân và trí thức. Kết quả thật kinh ngạc: hầu như các câu trả lời đều giống nhau – không phụ thuộc vào tôn giáo, lứa tuổi, giới tính, học thức và nước xuất xứ.

Mọi người đã trả lời ra sao? Câu hỏi 1: hau như tất cả sẽ bẻ ghi. Người ta sẽ chấp nhận cái chết của một người duy nhất để cứu năm mạng sống. Câu hỏi 2: Chỉ một phần sáu những người được hỏi muốn đẩy ông béo trên cầu xuống để cứu năm công nhân đường sắt. Đa số không làm chuyện đó.

Có kỳ lạ không? Bẻ ghi hay đẩy ông béo trên cầu xuống – hệ quả từ cả hai trường hợp đều như nhau! Một người chết, và năm người được cứu sống. Xét về con số người chết và người sống sót thì không có sự khác biệt nào. Nhưng hình như vẫn có một sự khác biệt thì phải. Rõ ràng là hai chuyện không giống nhau, một đằng thì tôi chấp nhận một người chết, còn một đằng là tôi tự gây ra cái chết đó. Xét về tâm lý thì có một sự khác biệt kinh khủng, khi tôi chủ động hay thụ động chịu trách nhiệm về một cái chết. Trong trường hợp chủ động, tôi có cảm giác mình là kẻ giết người, cho dù qua đó tôi cứu sống những người khác. Trong trường hợp thụ động thì trội lên cảm giác được giữ vai trò của số mệnh. Ra tay một cách chủ động và ngồi im một cách thụ động là hai thái cực xa nhau ngàn dặm. Nét đặc biệt là bộ luật hình sự của hầu hết các quốc gia đều phân bạch chính xác giữa cố ý hành động và không chịu hành động.

Xét về đạo đức thì hành động trực tiếp hơi khác với việc ra lệnh hay ra chỉ thị chẳng hạn. Những người lính ném bom xuống Hiroshima và Nagasaki không vượt nổi sự giày vò tinh thần; nhưng chỉ huy của họ, cho đến cả tổng thống Truman là người ra quyết định, rõ ràng không bị cắn rứt cho lắm. Chúng ta phân biệt thiệt hại do chủ ý và thiệt hại đã được lường trước. Chúng ta phân biệt hành vi trực tiếp và hành vi gián tiếp. Và đại đa số phê phán đối với các thiệt hại sinh ra do va chạm gay gắt hơn là thiệt hại không có va chạm. Ấn nút để giết một người dễ hơn là đâm một nhát dao vào tim người ấy. Một hành vi dã man thì có vẻ như càng trừu tượng càng dễ tiến hành.

Ta hãy nhớ lại khởi thủy của đạo đức từ ứng xử xã hội của linh trưởng. Ở đây tuy không có hành vi trừu tượng, nhưng nhất định có sự khác biệt giữa hành động và không hành động. Nếu ai đó khoanh tay không làm một việc gì, ta khó chắc chắn đó là chủ ý của người ấy. Cũng vì vậy nên ta lưỡng lự khi đưa ra một đánh giá rõ rệt mang tính đạo đức. Ngược lại, một hành vi trực tiếp thì dường như rõ ràng là đã xảy ra.
Nhưng Marc Hauser còn học hỏi được nhiều hơn trong chuyện này. Nếu hầu hết mọi người trong cùng một tình huống đều đánh giá tình hình rất giống nhau và ứng xử giống nhau – phải chăng điều đó đã chứng minh sự tồn tại của một cơ sở đạo đức chung trong mỗi chúng ta, bất kể ở nền văn hóa nào? Phải chăng chúng ta có chung một bộ quy tắc? Phải chăng chúng ta đều định hướng theo những nguyên tắc giống nhau, như: “Hãy công bằng!”, “Đừng gây tai hại gì!” hoặc “Bình tĩnh đi nào!” Hauser tin chắc rằng trong mỗi chúng ta đều tồn tại những quy tắc đạo đức. Trong trường hợp bình thường con người hoàn toàn không ý thức được những quy tắc đó, do vậy chúng không được chuyển giao qua đường giáo dục. Có lẽ chúng nằm trong thông tin di truyền của con người và được tiếp nhận thành của riêng trong những năm đầu đời. Hauser phỏng đoán rằng chúng ta học được giác quan đạo đức, tương tự như học ngôn ngữ vậy. Như Noam Chomsky đã chỉ ra, ban đầu trong não có một văn phạm phổ quát, và trẻ con xuất phát từ đó để phát triển tiếng mẹ đẻ của chúng, tùy vào tác động môi trường. Chúng ta không học ngôn ngữ đầu tiên, mà tiếp nhận chúng, tựa như mọc ra cánh tay. Đạo đức cũng thế, theo ý Hauser. Ở đây có một dạng văn phạm giúp ta tiếp nhận loại đạo đức của môi trường xung quanh theo cơ cấu đã có. Theo đó thì mỗi người sinh ra đã có một giác quan về Thiện và Ác, có thể gọi là “bản năng đạo đức”. Nói vậy thì không riêng tôn giáo và hệ thống luật pháp, không riêng cha mẹ và giáo viên dạy ta đạo đức – ta ra đời đã có sẵn cái mũi đánh hơi điều tốt xấu. Chính vì thế mà ta không cần suy nghĩ nhiều đã có thể nhận xét một hành vi nào đó là tốt hay xấu. Ngay cả một tội phạm có lẽ cũng biết chắc trong thâm tâm cái gì đúng đạo đức và cái gì không.

Hauser có lý không? Phải chăng các nhà tâm lý học nhờ các thí nghiệm mà tìm ra cái chìa khóa dẫn đến đạo đức trực giác, trong khi các triết gia với những lệnh thức và quy luật trừu tượng của họ không nắm lấy chìa khóa đó, và các nhà nghiên cứu não với hình chụp cắt lớp không tìm ra nó? Kant vốn khinh rẻ cảm tính. Vì đòi hỏi của ông là một loại đạo đức mà tốt nhất là không cần đến các cảm tính. Theo Kant, cảm tính không phải người bạn đồng hành, mà là đối thủ của lý tính; nó không giúp ta, mà chỉ cản trở ta đưa ra đánh giá đạo đức. Luận thuyết của Hauser về cảm tính đạo đức thì đi ngược hẳn. Cảm xúc không nhất thiết là những bản năng thấp hèn, mà hoàn toàn có thể là tình cảm cao quý. Để được phép tin chắc rằng trong mỗi người bình thường tồn tại một giác quan đạo đức như vậy, Hauser tìm sự hỗ trợ từ một người bạn cũ. Ông cùng Antonio Damasio nghiên cứu các bệnh nhân có rối loạn vùng thùy trán trước, nghĩa là với những tổn thương tương tự như Phineas Gage. Họ cũng được hỏi về ví dụ với toa tàu. Kết quả rõ ràng: như mọi người khỏe mạnh khác, các bệnh nhân não này đều muốn bẻ ghi để cứu năm công nhân đường sắt. Nhưng khác với phần đông những người được hỏi khác, họ sẵn sàng đẩy ông béo lộn cổ xuống. Các bệnh nhân tâm thần xã hội với hội chứng Phineas Gage không hề lưỡng lự khi làm việc đó. Những người khác thì bị bản năng đạo đức ngăn trở, còn họ thiếu hẳn cảm tính đạo đức. Họ chỉ đánh giá tình huống bằng lý trí.

Nếu tin vào thử nghiệm trên thì cơ quan trực giác đạo đức nằm ơ thùy trán trước của người. Tiềm ẩn trong khu này là một văn phạm phổ quát bẩm sinh của đạo đức. Song trước khi chốt một kết luận chắc chắn, ta không nên bỏ qua một số ý kiến trái chiều quan trọng: câu hỏi với toa tau và bẻ ghi là một câu hỏi chính xác và cụ thể; ngược lại, câu hỏi với người đàn ông trên cầu không rõ ràng. Chúng ta hãy đặt mình một cách nghiêm túc vào tình huống đẩy một người trên cầu xuống để chặn toa tàu. Nếu người ấy quay lưng về phía ta thì dễ đẩy. Nhưng nếu người đó nhìn vào mặt ta thì tình hình sẽ khó khăn hơn nhiều. Ta thấy ông ta mất cảm tình? Thôi được, ta sẽ hy sinh người ấy. Ông ta thân thiện và dễ mến, lại còn mỉm cười thân mật nữa? Thế thì ta sẽ không đẩy ông ta xuống. Tất cả những suy nghĩ ấy không đi ngược lại luận thuyết của Hauser về bản năng đạo đức, nhưng chúng phức tạp hóa tình hình. Vì tất cả những cảm xúc cá nhân của chúng ta về cảm tình hay mất cảm tình đều liên quan đến đạo đức trực giác của chúng ta.

Ví dụ với việc bẻ ghi cũng thế. Năm trong sáu người được hỏi sẵn sàng để người công nhân bị tàu đâm và qua đó cứu năm người kia. Ổn thôi. Nhưng nếu người sắp bị tôi hy sinh là người quen của tôi, thậm chí một người bạn thân? Tôi vẫn bẻ ghi chứ? Và nếu trên đường ray không phải một công nhân, mà là mẹ tôi, hoặc em tôi, hoặc con tôi? Ai sẽ bẻ ghi? Ai sẽ bẻ ghi khi phải chọn giữa một bên là năm công nhân và bên kia là một đứa bé đang đùa nghịch? Ở ví dụ kia, nhất định sẽ có vài học sinh muốn đẩy ông giáo dạy toán đáng ghét xuống cầu để cứu các công nhân.

Trong trường hợp thứ hai sẽ có thêm một số khía cạnh không liên quan gì đến bản năng. Nếu tôi đẩy ông béo, ai cam đoan là ông ta sẽ rơi trúng đường ray? Và nếu rơi trúng liệu ông ta có chặn được toa tàu? Không được thì sao? Thì không chỉ năm công nhân bị chết, mà tôi còn là kẻ sát nhân. Ai sẽ tin là tôi chỉ có chủ ý tốt? Tất cả các câu hỏi trên đều quan trọng đối với hành vi của tôi, và chúng không phải hệ quả của sự cân nhắc lâu la, mà xuất hiện nhanh như chớp. Chúng hình thành từ kinh nghiệm sống, là một dạng phản xạ mang tính xã hội và văn hóa.

Khó có thể phân biệt giữa cơ địa di truyền và tri thức văn hóa. Cả hai hiệp đồng không thể tách bạch. Việc các quyết định giống nhau được đưa ra ở nhiều nền văn hóa khác nhau, như trường hợp các câu hỏi của Hauser, không là bằng chứng để coi các ý tưởng đạo đức là bẩm sinh đã có. Có thể chỉ là các ý tưởng đạo đức phát triển rất giống nhau tại các nền văn hóa, vì ở đâu chúng cũng được nhìn nhận là tốt hay ít nhất là đáng làm. Đáp án chính xác cho câu hỏi: “Bẩm sinh hay do giáo dục?” có lẽ là: khó phân biệt thực sự! Ví dụ: một số thanh thiếu niên được giáo dưỡng thời Hitler, sau này thành sĩ quan SS và không ghê tay khi giết người, kể cả giết phụ nữ và trẻ con yếu thế. Giống như học ngôn ngữ, hình như không phải toàn bộ cảm nhận đạo đức của chúng ta đã có ngay từ lúc ra đời. Không phải chúng ta sinh ra là đã được trang bị những giá trị, mà chỉ có một giáo trình cho ta biết có thể tiếp thu những thông tin gì và vài điều kiện về cách tổ chức các thông tin đó.

Việc năng lưc đạo đức đó được tận dụng ở mỗi người một khác nhau ra sao, có thể nhận thấy qua sự khác biệt giữa các ý tưởng đạo đức của con người. Quyền sở hữu, luân lý tình dục, quy tắc tôn giáo và cách đối phó với tính hung hãn mỗi nơi một khác, khiến ta khó có thể nói thế nào là “đặc trưng người”. Trong xã hội của chúng ta tồn tại nhiều mặt của một phạm trù. Có đạo đức hằng ngày, đạo đức lập trường, đạo đức trách nhiệm, đạo đức giai cap, đạo đức hợp đồng, đạo đức tối đa và tối thiểu, đạo đức khởi xướng, đạo đức kiểm tra, đạo đức đàn bà và đàn ông, đạo đức xí nghiệp, đạo đức cho người điều hành, cho người theo phái nữ quyền, cho nhà thần học. Mỗi khi xã hội thấy một vấn đề mới thì cũng hình thành ngay một đạo đức mới. Mỗi đạo đức mới ít nhất đều có dựa trên các giá trị cũ bất di bất dịch: kêu gọi lương tâm, đòi hỏi trách nhiệm, đòi thêm công bằng và dân chủ, thêm tình bác ái.

Ai tư duy đạo đức, người ấy chia thế giới thành hai mảng: những điều đáng tôn trọng và những điều đáng tẩy chay. Hơn hai nghìn năm ròng, các triết gia vật lộn đi tìm những minh chứng bất khả kháng để ấn định tối hậu các tiêu chí cho tôn trọng và tẩy chay. Với kết quả đáng nể: một mặt, nhờ tác động triết học qua nhiều thế kỷ mà đã hình thành một hệ thống đạo đức hiện đại như nhà nước pháp quyền tư sản, mặt khác, toan bộ cấu trúc ấy (ít nhất là ở Đức) còn lung lay đến nỗi dễ dàng bị xô đổ mà không gặp phải trở lực đạo đức nào đáng kể, ví dụ như dưới thời Quốc xã. Dường như tiến bộ đạo đức trong một xã hội ít diễn ra hơn bởi lý tính, mà bởi kích động được quảng đại quần chúng chú tâm đến một số vấn đề nhất định. Động cơ của động thái xã hội là sự kích động tâm lý. Hay, như triết gia Mỹ Richard Rorty có lần nhận định chính xác: “Tiến bộ đạo đức không phụ thuộc vào việc người ta vượt lên khỏi sự mẫn cảm để tiếp cận lý tính. Nó cũng chẳng dựa trên việc người ta, thay vì tiếp tục thỉnh cầu cấp tòa án địa phương thấp hèn và tham nhũng, lên thẳng cấp tòa cao hơn, nơi các án quyết được lập theo một quy luật đạo đức không phụ thuộc vào lịch sử, vào địa điểm và biên giới văn hóa nào.”

Sau bảy chương về đạo đức, có lẽ nên kết luận như sau: con người là một động vật có năng lực đạo đức. Năng lực đạo đức đó là bẩm sinh, nhưng khó nói là ở quy mô nào. Bộ não linh trưởng cung cấp khả năng mô phỏng tư duy của người khác, và nó biết đến phần thưởng (hóa học thần kinh) cho những việc “tốt”. Ứng xử hợp đạo lý là một thuyết vị tha phức hợp, bao gồm cả cảm xúc lẫn cân nhắc so sánh. Không có “quy luật đạo đức” trong con người để bắt con người phải tốt, như Kant từng nghĩ. Nhưng hành động đạo đức đã hình thành, vì nó thường được đền đáp, cho từng cá nhân và cho cộng đồng của họ. Mỗi người hành động đạo đức đến đâu, chủ yếu phụ thuộc vào tự trọng, và tự trọng lại phụ thuộc vào giáo dục.

Vâng, với công cụ ấy có lẽ chúng ta đã đu trang bị cho thực tế. Vậy chúng ta hãy mạnh dạn tiếp cận các vấn đề đạo đức cụ thể trong xã hội chúng ta. Như đã trình bày, theo cảm tính thì tồn tại một quyền đạo đức để được phép giết người trong điều kiện nhất định, như đối với người đàn ông trên cầu. Nhưng, liệu có một nghĩa vụ đạo đức là phải giết người?

Chương tiếp theo: Cô Bertha được sống. Có được phép giết người?