[Trích đoạn] Tôi là ai và nếu vậy thì bao nhiêu (London)

Posted on 21/02/2013 bởi

0


toi la ai


LONDON                                                                              

                                                                              Cô Bertha được sống

                                                                          Có được phép giết người?

Ôi, bà cô Bertha nhà tôi! Cả đời cô chỉ biết hành hạ cả gia đình với tính khí đáng ghét của mình. Cô không có con, ơn Chúa, song thay vào đó thì anh trai cô là bố tôi bị làm nạn nhân. Láng giềng của cô cũng không may mắn gì hơn, hàng chục năm cãi vã vì ranh giới nhà, vì con chó của cô sang vườn hàng xóm ỉa bậy. Nhân nói chuyện con chó ấy: nó sủa ông ổng cả ngày và hay được cô thả ra tấn công bác bưu tá. Một bà già đáng ghét!

Tôi còn quên một chuyện: cô rất giàu, giàu nứt đố đổ vách. Chú Albert khi qua đời đã để lại cho vợ một núi tài sản. Và cô đã khéo tay đầu tư vào bất động sản, trái phiếu, cổ phiếu. Hôm nay cô có tiền triệu. Và thú vị nhất là tôi sẽ là người thừa kế. Tiếc thay, cô khỏe như voi, cô mới bảy mươi và rất khỏe mạnh. Cô không bia rượu, không thuốc lá, thậm chí còn không thích đồ ngọt. Cô chẳng thích gì cả, trừ tiền. Cô sẽ không khó khăn gì để thọ chín mươi hay một trăm. Nhưng nếu cô quả thực sống đến trăm tuổi thì khi ấy tôi đã hơn bảy chục. Có trời biết lúc đó tôi làm gì và có dùng được số tiền thừa kế ấy làm gì nữa không. Đôi khi tôi mong cho cô Bertha nhắm mắt xuôi tay vào ngày mai, không, hôm nay thì hơn.

Liệu có tìm ra lý do gì cho phép giết một người đáng ghét để đạt mục đích tốt? Có một lý thuyết nào dễ lọt tai, khả dĩ biện minh cho cái chết trước hạn của cô Berta? Và quả thực tôi nhớ ra một lý thuyết: Thuyết vị lợi.*

Jeremy Bentham sinh năm 1748 tại Spitalfields gần London. Ông lớn lên trong một gia đình giàu có theo phái bảo thủ, học trường Westminster School danh tiếng dành cho con cái các nhà quý phái nhất thành phố. Triết gia John Locker, kiến trúc sư Christopher Wren và nhà soạn nhạc Henry Purcell từng là học sinh trường này. Năm 1760, khi Bentham 12 tuổi, bố mẹ ông gửi đứa con trai có năng khiếu xuất sắc vào trường Queen’s College ở Oxford, và mới 15 tuổi Jeremy đã có bằng cử nhân luật. 24 tuổi, luật sư Bentham bắt đầu làm việc tại London, song con đường hoạn lộ rẽ sang một ngả khác hẳn với mong đợi của gia đình. Bentham cực kỳ bất bình với hiện trạng của hệ thống luật pháp và tòa án Anh hồi giữa thế kỷ 18. Thay vì hành nghề luật sư, ông muốn cải cách lĩnh vực luật pháp, hướng tới tăng cường lý tính và dân chủ. Ông có đủ mọi ưu ái, vì tài sản thừa kế của người cha mất năm 1792 đem lại cho ông một cuộc sống sung túc. Bốn chục năm sau đó Bentham chỉ để viết sách, hằng ngày từ mười đến hai mươi trang. Vì ngán ngẩm với các chi tiết tư pháp vặt vãnh, ông sai một học trò diễn đạt cụ thể những đề nghị của mình về cải tạo Luật dân sự và thể hiện thành hình thức một bộ luật khả kính. Bentham là một người đặc biệt và đáng mến. Giống như người Pháp vừa làm cách mạng để xóa bỏ các đặc quyền của nhà thờ và giới quý tộc, ông phấn đấu cho một xã hội tự do hơn và bao dung hơn ở Anh. Ông phác thảo ra những phương thức cải cách xã hội, đấu tranh cho tự do ngôn luận, vạch quy hoạch cho hệ thống nhà tù nhân đạo hơn và ủng hộ các mầm mống đầu tiên của phong trào nữ quyền.

Xuất phát điểm của ông vừa đơn giản lại vừa độc đáo: hạnh phúc là tốt, đau khổ là xấu! Nếu đúng thế thì cả lĩnh vực triết học lẫn nhà nước đều phải định hướng theo đó. Xã hội phải có mục tiêu là giảm thiểu đến mức có thể các đau khổ trong nó và thúc đẩy hạnh phúc của tất cả, hay ít nhất là của đại đa số. Càng nhiều hạnh phúc được thực thi thông qua một biện pháp nào đó thì biện pháp ấy càng có lợi hơn và càng tốt hơn. Nguyên lý đó được Bentham gọi là Thuyết vị lợi. Khi qua đời năm 1832, Bentham đã rất nổi tiếng. Mặc dù ông tự cho mình là theo trường phái tự do, triết lý của của ông được các nhà cách mạng Pháp và sau này cả những người cộng sản Pháp rất hoan nghênh. Và ở Hoa Kỳ có những ba bang (New York, Nam Carolina và Louisiana) tiếp nhận bộ luật do Bentham khởi xướng.

Nguyên lý cho rằng hạnh phúc là tốt và đau khổ là xấu dường như rất thuyết phục. Vì sao không đem áp dụng cho cô Bertha được? Trước tiên phải công nhận rằng bà cô tôi không đem lại cho thế giới này một niềm hạnh phúc nào. Cô chỉ gây ra đau khổ, ví dụ như cho hàng xóm và bác bưu tá tội nghiệp. Số tiền mà cô để ở ngân hàng cũng chẳng làm gì hay hớm. Nhưng tất nhiên người ta có thể thay đổi tình cảnh đó. Giả sử nếu có nhiều tiền thì tôi, và không chỉ mình tôi, sẽ làm được vô vàn điều tốt đẹp! Chẳng hạn tôi có một người quen làm bác sĩ và lãnh đạo một nhà thương cho trẻ em bị bệnh máu trắng. Một bà bạn của tôi hoạt động vì bọn trẻ con vô gia cư lang thang ở Brazil. Nếu có được số tiền của cô Bertha thì tôi sẽ cho họ hơn một triệu. Chỉ trở bàn tay là đem lại cho thế giới xiết bao hạnh phúc! Tôi nghĩ đến những đứa bé được chăm sóc tối ưu ở bệnh viện và hình dung ra trước mắt nụ cười hạnh phúc của những trẻ em Brazil được tôi tài trợ cho đi học.

Tất cả những gì cần làm để thực thi mơ ước đó là… Không, tôi không chỉ được phép – tôi phải giết cô Bertha. Vì nếu Bentham nói đúng thì tôi gần như phải có nghĩa vụ trừ khử mụ phù thủy đó. Duy chỉ có một điều khiến tôi phải suy nghĩ, đó là làm sao tống tiễn bà cô yêu quý một cách nhẹ nhàng như có thể qua thế giới bên kia và không để bà nhận ra. Ông bạn bác sĩ của tôi nhất định sẽ nghĩ ra cách để cô Bertha chìm vào giấc ngủ ngọt ngào. Biết đâu nhờ vậy mà cô tránh được một cái chết đau đớn và tệ hại hơn cũng nên. Sẽ không ai rơi một giọt lệ vì cô, nếu nói theo cách rất bay bướm. Bao nhiêu người sẽ vui mừng khi mụ già độc địa không còn trên dương gian nữa? Láng giềng sẽ lại được sống yên bình và vườn tược lại sạch sẽ, bác bưu tá được phép hy vọng sẽ có những người dễ mến hơn chuyển đến ngôi nhà này. Ông bác sĩ quen tôi chỉ phải làm ra vẻ tình cờ tìm thấy xác cô và cấp giấy báo tử, mọi việc trông sẽ rất tự nhiên và không ai điều tra vụ này. Chuyện như thế đã ổn thỏa chưa? Trong vụ này liệu tôi có nghĩa vụ đạo đức để giết người?

Ta hãy cẩn thận xét lại lần nữa các lý lẽ: nếu tôi giết cô Bertha để cứu những đứa trẻ gặp nạn thì rõ ràng tôi đã tạo được sự cân bằng tốt nhất giữa hạnh phúc và đau khổ của những cá nhân liên quan. Đồng thời cũng có nghĩa: hệ quả tốt cho cộng đồng sẽ biện minh cho một phương tiện xấu được dùng để chống lại một cá thể đơn lẻ. Không có gì khó hiểu. Nhưng nếu được hỏi thì Bentham sẽ nói sao, khi biết tôi biện minh cho hành động giết người với sự trợ lực của ông? Kỳ lạ thay, ông không viết một dòng nào về hệ quả rất sát thực tế ấy. Tất cả những gì tôi biết là, ông không giết bà cô nào để thừa kế, nhưng ông cũng không cần thiết làm thế. Và ông cũng không hô hào giết những kẻ bạo ngược, những tên đại địa chủ tàn ác và bọn bóc lột khác. Ông có một tinh thần tự do, và ông giữ tinh thần đó trong khi chọn phương tiện của mình.

Nhưng như thế chưa đủ cho tôi. Tôi suy nghĩ, cái gì đã ngăn không cho Bentham đưa ra kết luận đơn giản là sự so sánh giữa hạnh phúc và đau khổ sẽ biện minh hoàn toàn cho hành động giết người. Vì đơn giản là ý tưởng đó rất gần gũi.

Hồi tôi khoảng 12 tuổi, lần đầu tiên tôi được bố mẹ kể cho nghe về trại tập trung của bọn Quốc xã và tám triệu người bị tàn sát dã man ở đó. Ngay trong lần đầu ấy tôi đã tự hỏi, vì sao quá ít người coi việc giết Hitler là nghĩa vụ của mình để chấm dứt nỗi đau khổ khủng khiếp đó. Theo luận chứng của Bentham thì trường hợp này quá dễ hiểu: người ta được phép giết một bạo chúa xây trại tập trung hay triệt phá hòa bình thế giới, vì tổng số những bất hạnh đe dọa thế giới lớn hơn nỗi bất hạnh riêng của hắn là phải chết.

Có được phép cân nhắc giống như vậy trong trường hợp cô Bertha không? Hạnh phúc mà cái chết của cô đem lại cho thế giới lớn hơn nhiều so với nỗi bất hạnh xảy ra với cô. Nhưng mặc dù vậy, có lẽ Jeremy Bentham sẽ chỉ mỉm cười hóm hỉnh, và ông sẽ hỏi, liệu tôi đã suy nghĩ kỹ về hậu quả cho xã hội, nếu ví dụ với cô Bertha được người ta bắt chước làm theo.

Hàng triệu người có tài sản để lại, hay những kẻ đáng ghét khác, chính trị gia, đại gia kinh tế, hay cả các tù nhân hình sự hoặc thiểu năng tinh thần không có gia quyến sẽ phải tính đến khả năng bị lẳng lặng đưa sang thế giới bên kia trong khi ngủ. Một nỗi kinh hoàng bùng nổ trong xã hội. Và nỗi kinh hoàng đó sẽ gây ra xiết bao xáo trộn và hỗn loạn trong quan hệ giữa mọi người?

Được, cứ cho rằng tôi gặp may và vụ giết cô Bertha không bị lộ. Nhưng nếu tôi cảm thấy hành vi của mình là công bằng thì điều đó phải được coi là ổn thỏa về nguyên tắc. Và nếu điều đó ổn về nguyên tắc thì nó có giá trị thực thi cho mỗi người. Vậy thì có trời mới biết, liệu một ngày xấu trời điều đó có xảy ra với chính tôi hay không. Khi mấy thằng cháu tôi cũng nghĩ về tôi như tôi nghĩ về cô Bertha? Chính tôi cũng sẽ không có sự bảo đảm nào cho mạng người. Để ứng dụng nguyên tắc về “hạnh phúc là tốt và đau khổ là xấu” một cách có ý nghĩa, Betham cho rằng trước tiên phải ấn định rõ: không thể cộng sung sướng và đau khổ như một bài toán để ra quyết định về sống hay chết của con người. Vì nếu thế thì sớm muộn xã hội văn minh nào cũng sụp đổ.

Có thể hiểu được ý của Bentham. Nhưng liệu hai nguyên lý cơ sở trong triết lý của Bentham có hợp nhau không? Một mặt thì tổng số hạnh phúc quyết định hành động tốt, nhưng mặt khác Bentham coi giết người là lệ ngoại. Tuy nhiên trong trước tác của ông không tìm thấy một lý giải đạo đức có tính thuyết phục cao. Vậy thì nếu có lý do để phản đối hàng nghìn trường hợp giết những người bất hảo – và phản đối cả tra tấn – thì đó là sự duy trì trật tự công cộng, chứ không phải đạo đức của từng cá nhân. Trái lại, Immanuel Kant trao cho tất cả mọi người một giá trị tuyệt đối tối thượng là phẩm giá con người. Có lẽ Kant sẽ lắc đầu quầy quậy khi nghe ví dụ về cô Bertha: “Không thể đền bù một mạng sống bằng các mạng sống khác.”

Bài toán của Bentham về sướng khổ và ý tưởng của Kant về đời người như là giá trị cao nhất là hai thái cực bất khả dung hòa. Nhưng ai có sức thuyết phục hơn? Giết Hitler vì lý do đạo đức để ngăn cản nhiều đau khổ và bất hạnh – liệu hôm nay vẫn được coi là đúng? Giáo điều của Kant về phẩm giá bất khả xâm phạm có được áp dụng ở đây không? Ít nhất thì những trường hợp đơn giản hơn – như vụ cô Bertha – là tình huống khác. Cũng có thể nói là: ít nhất thì cô Bertha không chủ động gây ra quá nhiều tai họa. Sự khác biệt giữa hành vi chủ động và tính xấu thụ động không phải là chuyện vặt, như đã chứng tỏ trong chương trước, cả trong cách đánh giá nạn nhân lẫn thủ phạm. Bentham không công nhận sự khác biệt đó – ít nhất là ông không công nhận cho thủ phạm. Có lẽ ông sẽ làm cả hai việc: ông không chỉ bẻ ghi, mà còn đẩy ông béo trên cầu xuống. Vì thuyết vị lợi của ông chỉ xét đến tính hữu dụng đạo đức của một hành động, và do đó không có sự khác biệt giữa giết người cố ý và chấp nhận một cái chết. Nhưng mặc dù phương trình của Betham logic đến mấy thì con người rõ ràng không chỉ là một động vật logic. Có những nguyên tắc đạo đức quan trọng hơn cả công lý, thêm nữa là, thuyết vị lợi còn vất vả với việc mỗi người hiểu công lý theo hình dung riêng (đầy cảm tính) của mình. Gì thì gì, con người có trực giác, đó là cái không dễ dàng bị phủ nhận và gạt khỏi lĩnh vực đạo đức. Tuy đạo đức và pháp luật không xây trên nền tảng trực giác, nhưng cũng không thể hoạt động mà thiếu hẳn trực giác, nếu không muốn đánh mất nhân tính.

Vậy thì cô Bertha cần được sống. Và người ta chớ nên đo giá trị của mạng sống con người bằng sự hữu dụng của người ấy. Câu hỏi lắt léo mà đến giờ vẫn chưa được giải đáp thấu đáo: có lý giải được giá trị cuộc sống theo cách nào khác không? Và thực ra giá trị đó từ đâu ra? Nó bắt đầu từ đâu?

Phần tiếp : Sự ra đời của phẩm giá. Phá thai có hợp đao đức?

* Còn được gọi là Thuyết công lợi (Utilitarianism), một trường phái triết học chủ trương rằng giá trị đạo đức của mọi hành động dựa trên năng lực đem đến hạnh phúc hay sung sướng cho tất cả mọi người. Utilitarianism là một hình thức của Consequentialism (chủ nghĩa quy kết), có nghĩa là giá trị đạo đức của mọi hành động phải được đánh giá bởi kết quả của nó. Chủ thuyết này được phát triển nhiều nhất từ hai triết gia Anh là Jeremy Bentham và John Stuart Mill. Thuyết vị lợi thường được người ta mô tả bằng câu “đem đến lợi ích tốt nhất cho nhiều người nhất”, hay cũng được gọi là “nguyên lý hạnh phúc tối đa” (Wikipedia).