Con đường nghệ thuật đầy nghịch lý

Posted on 28/02/2013 bởi

0


ly nhue


Trong khi tỏ ra xa lạ với mọi đổi mới hời hợt có tính cách a dua, tác giả chứng minh rằng tính hiện đại của một ngòi bút là ở nội dung triết học lịch sử toát ra qua tác phẩm chứ không phải một vài biện pháp kỹ thuật có tính cách tiểu xảo.

Chăm chú theo dõi và miêu tả thế giới với tất cả bề sâu và bề rộng mà lịch sử đã mở ra cho nhận thức vốn là một đặc trưng của văn học phương Tây thế kỷ XIX. Việc dựng lại bức tranh xã hội đã góp phần dẫn tới sự ra đời nhiều kiệt tác đến nay còn được tìm đọc. Bước sang thế kỷ XX, văn học, nhất là tiểu thuyết thực sự đi vào một hướng khác. Xu hướng chi phối các nhà tiểu thuyết – xét từ Thomas Mann tới Hemingway, từ Faulkner tới Borges… – là đi sâu vào thế giới bên trong của con người.

Với tư cách một phương hướng phát triển tự nhiên của tư duy nhân loại, cách khai thác đời sống này cũng được chấp nhận ở phương Đông. Nhiều nhà văn đương đại Trung Quốc trước sau cũng đi tới cách viết đó. Nhất là từ sau 1976, trong lịch sử Trung Hoa, thời điểm này đánh dấu một bước ngoặt, đất nước ra khỏi cách mạng văn hóa để dần dần trở về với một đời sống dân sự bình thường, đúng hơn từ một xã hội kết dính theo kiểu trung cổ tới một xã hội tan băng, suy nghĩ của con người được giải phóng, những thang bậc tự do được mở rộng.

Với tâm thế làm sao nhanh chóng vượt lên tình trạng cô lập trước kia để tìm lại mối quan hệ với thế giới, các lớp nhà văn trẻ kế tiếp hào hứng đến với những quan niệm hiện đại và cả hậu hiện đại nữa. Có thể thấy điều đó ngay trong phạm vi ít ỏi những tác phẩm văn học Trung Hoa đương đại đã được dịch ra tiếng Việt. Từ Vương Mông tới Trương Hiền Lượng, từ Dư Hoa tới Thiết Ngưng, từ Trì Lợi tới Trương Kháng Kháng… người ta đã có thể nhận ra cả loạt tác giả đi vào “khai thác thế giới nội tâm đổ vỡ của con người trước sự mất thăng bằng xã hội “ (cách nói của bài “Văn học hiện đại Trung Quốc “tấn công” thị trường sách Việt”, báo Cần Thơ 10-3-2007).

Đâu là chỗ gần nhau của những nhân vật trong các tiểu thuyết Đàn ông một nửa là đàn bà, Thị trấn Phù Dung, Quạ đen, Thành phố không mưa, Điên cuồng như Vệ Tuệ? Họ ở trong cái thế đi tìm mình, bởi băn khoăn không hiểu mình thế nào. Những ý nghĩ bị coi là điên cuồng nẩy nở không sao kìm nén nổi. Bản năng tính dục được xem như cái phần sâu xa trong tâm thức bị quên lãng và nay cần ưu tiên khám phá. Trong một thế giới như vỡ vụn ra, chính họ cũng ngổn ngang tan nát không sao chắp nối lại cho được. Vẻ đẹp của sự hoàn thiện nay chỉ còn là một cái gì xa lạ.

Bản thân Lý Nhuệ trong Cây không gió cũng đã đi tìm một cách viết hiện đại. Mỗi chương sách cất lên mỗi giọng nhân vật khác nhau. Trước mắt người đọc là một xã hội người lùn thu nhỏ, những thế giới nội tâm rời rạc đứt nối, người này vừa khác biệt mà lại vừa giống hệt người kia.

Song đến Chốn xưa và Ngân thành cố sự, ông muốn tìm cho mình một hướng đi khác. Một nguyên tắc được ưa thích của tiểu thuyết thế kỷ XX là đặt thế giới vi mô dưới tấm kính hiển vi. Tất cả tài năng của người viết dồn cả vào việc “bắn phá” cái phần nội tâm con người. Tiểu thuyết không còn là một thứ bách khoa toàn thư về đời sống như định nghĩa của nó trong thế kỷ XIX. Ngược lại, đến đó, cuộc đời bao la như được thu hẹp, nhân vật đứng rất gần tác giả, nhiều khi có cảm tưởng họ chẳng qua là sự hóa thân của tác giả.

Với cả người viết lẫn người đọc, nhu cầu đổi mới văn học theo hướng này là dễ hiểu. Nó cũng là sự bổ sung cần thiết của con người hiện đại vào lối viết sử thi vốn đã được khai thác quá mức. Nhưng có những người đã đi quá đà. Trong khi chống lại cực đoan này, họ lại rơi vào cực đoan khác. Với họ, xu thế xem xét đời sống nói trên trở thành lối thoát duy nhất của văn học hiện đại. Nói như nhà văn được giải Nobel Cao Hành Kiện, trong buổi trò chuyện với nhà phê bình Việt Nam Phạm Xuân Nguyên (in trên báo TT&VH số ra 2-4-05): “Tôi viết về thực tế cuộc sống giống như nó đang diễn ra không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở nhiều nơi khác. Con người với những vấn đề tồn tại cơ bản của nó, bất kỳ ở đâu, là điều quan tâm chính của tôi. Điều này lớn hơn số phận của một quốc gia đất nước.Tôi cũng tin như nhiều người hiện nay rằng các hệ thống đại tự sự đã thuộc về quá khứ”. Đây là một khái quát chính xác nhưng phiến diện, có thể là hướng nên theo với một số người thậm chí với một số lớn người viết, nhưng không thể coi là bắt buộc với tất cả.

Tư duy hiện đại vốn không bị khuôn vào bất cứ một mẫu nào có sẵn. Không có một chìa khóa duy nhất cho mọi vấn đề. Không có cái gì bao trùm hoàn toàn và cái gì bị vứt đi hoàn toàn. Người ta vẫn có thể dùng lại cái cách hôm qua, miêu tả thế giới theo kiểu hôm qua, miễn là mang lại cho nó một sắc thái mới.

Có thể dự đoán, càng trưởng thành trong sáng tác, Lý Nhuệ càng như muốn tìm mọi cách chống lại sự áp đặt một chiều của chung quanh. Con đường đi tới tự do của ông mang tính cách nghịch lý – nó đi qua cái cũ. Ấn tượng lớn nhất còn lại từ Chốn xưa và Ngân thành cố sự không phải là những cá nhân mà là một thứ panorama – bức tranh toàn cảnh.

Trong Chốn xưa, tác giả đưa ra câu chuyện về hai dòng họ. Diễn biến câu chuyện được đặt trong một hoàn cảnh cụ thể: từ những năm mà những người Cộng sản Trung Quốc bắt đầu gây dựng cơ sở ở một đô thị chuyên về khai thác và cung cấp muối, trải qua thời kỳ sau 1949, cách mạng văn hóa, cho tới khi nước Trung Hoa cải cách và mở cửa ra với thế giới.

Trong Ngân thành cố sự, lịch sử còn lùi về xa hơn, tức là Trung Quốc thời cận đại, ở đó có đám quan lại phong kiến tận tâm với sứ mệnh cai trị, lại có những người nông dân khởi nghĩa, ấu trĩ, đầy ảo tưởng ngây dại, và những thất bại hiển nhiên của những thanh niên muốn dùng văn hóa phương Tây để cải tạo lại xã hội theo hướng hiện đại. Ngay ở cuối chương một của cuốn sách được tặng giải Mao Thuẫn này, tác giả cho một nhân vật tìm tới những tấm thẻ tre có tên là lịch sử. Nhiều lần hai chữ lịch sử trở lại trong tác phẩm của ông, và đó chính là nhân vật chính mà ông muốn miêu tả. Con người dù phong phú đến đâu thì cũng không thể vượt ra ngoài cái nền rộng lớn của lịch sử; có một thứ cũng phong phú không kém con người nếu không muốn nói là phong phú hơn, đó là lịch sử, ông muốn nhắn nhủ vậy.

Thế có phải là tác giả muốn trở lại với cái cách viết thịnh hành trong văn học sau 1949 – chỉ biết hoàn cảnh, chỉ biết điều kiện khách quan – và so với các đồng nghiệp ông đã có một bước lùi? Không hẳn! Trước đây, cảm tưởng về cái toàn thể panorama thu hút sự chú ý của mọi đầu óc và người ta nghĩ rằng chỉ nó là đáng miêu tả. Còn con người ư, mỗi người chỉ là những đinh vít trong guồng máy, họ tồn tại không phải vì họ, mà trước tiên vì cái giai cấp mà họ được coi như một đại diện. Các nhân vật thuộc về các tầng lớp trên, như địa chủ tư sản, thường là những con người tha hóa hủ bại, đáng căm ghét. Những người thuộc về tầng lớp lao động thì tuy ít nghĩ, ít học, song lại có một đời sống tinh thần lành mạnh.

Nhìn tổng thể, cái con người lý tưởng mà người ta noi theo lúc ấy là những hình nhân càng đơn giản càng tốt. Lôi Phong là một ví dụ. Nên biết là trong một cuộc trưng cầu ý kiến để lấy ra một trăm tác phẩm ảnh hưởng tới đời sống tinh thần người Trung quốc, Nhật ký Lôi Phong vẫn có mặt. Với Lý Nhuệ mọi thứ phải được quan niệm khác đi.

Theo Vương Trí Nhàn

Nguồn: VnExpress